Thứ Ba, 8 tháng 4, 2014

GIA PHẢ - HỌ NGUYỄN -VÀ HỌ TRƯƠNG

GIA PHẢ HỌ NGUYỄN

Nguyễn An Ninh

VÀ HỌ TRƯƠNG

HỘI KHOA HỌC LỊCH SỬ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU VÀ THỰC HÀNH GIA PHẢ

GIA PHẢ

HỌ NGUYỄN

&

HỌ TRƯƠNG

(NGUYỄN AN NINH – TRƯƠNG THỊ SÁU)

LẬP LẦN ĐẦU THÁNG 8/1999 – SỬA LẦN 2 THÁNG 12/2013

LỜI TỰA

Nguyễn An Ninh là nhân vật lịch sử nổi tiếng, một nhà yêu nước vĩ đại vào nữa đầu thế kỷ XX ở Nam Kỳ Pháp thuộc. Ông là một trong nhóm Ngũ long (Phan Châu Trinh, Phan văn Trường, Nguyễn Ái Quốc, Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn An Ninh) gồm những trí thức Việt Nam tiến bộ nổi danh ở Pháp thời bấy giờ. Thân thế sự nghiệp của Nguyễn An Ninh – theo nhà sử học Trần Văn Giàu - “xứng đáng được lưu danh bằng bia đá tượng đồng”. Sử Việt Nam (cả hồ sơ của mật thám Pháp) đã ghi chép nhiều về hoạt động yêu nước của Nguyễn An Ninh.

Tuy nhiên, lâu nay các nhà nghiên cứu sử học còn chưa biết nguồn gốc dòng họ, nguồn gốc Tổ quán, Tổ phụ, Tổ mẫu của Nguyễn An Ninh, nên một số tư liệu chưa được viết đúng.

Vừa qua, được sự phối hợp của Nhóm Nghiên cứu và Thực hành Gia phả Thành Phố Hồ Chí Minh, chúng tôi tiến hành dựng bộ gia phả cho dòng họ. Tôi đã cung cấp tư liệu, gồm tập sách “Nguyễn An Ninh” do Nguyễn An Tịnh sưu tầm trên 20 năm, và tập hồi ký “Cùng anh đi suốt cuộc đời” của Má tôi. Nhóm Nghiên cứu và Thực hành Gia Phả còn sưu tầm một số tài liệu mật về Nguyễn An Ninh ở Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II tại Tp.Hồ Chí Minh, nhiều lần đi điền dã về Hóc Môn (TP.HCM) và Cần Giuộc (Long An) là hai nơi cư ngụ và quê quán của Ba, Má tôi để đọc và chụp ảnh các mộ chí cổ, nghe thêm lời kể của thân nhân, những bậc lão thành có biết về Ba Má tôi, nhờ đó biết đích xác tên bà Ngoại tôi khắc chữ Nho trong bia đá xanh là Ngô Thị Điểm, mà xưa nay chỉ biết bà tên Ngô Thị Ba.

Để cho tình cảm nội ngoại kết nối, tôi đề nghị Nhóm Nghiên cứu và Thực hành Gia phả dựng bộ Gia phả này gồm họ Nguyễn (bên nội) và họ Trương (bên ngoại) vì thế không thể nghiên cứu sâu và thật đầy đủ cho từng bên. Dù vậy, bộ gia phả vẫn có các phần chính yếu, như: Phả ký, Phả hệ, Phụ lục và có minh họa nhiều ảnh chụp như mộ, bia chí, tên đường, tên trường và cả bút tích, chữ ký của Ba tôi là nhân vật chủ yếu trong bộ gia phả này.

Do chiến tranh ác liệt, dòng họ tứ tán khắp nơi, những bậc trưởng thượng đều qua đời, con cháu còn lại không nhiều, ai biết được đến đâu thì góp vào đến đó nên bộ gia phả này chắc còn nhiều thiếu sót. Mong rằng anh chị em trong hai bên nội ngoại thấy có điều gì thì vui lòng bổ khuyết cho, viết bằng giấy và góp cho nhà thờ gia tộc.

Dù sao, đây cũng là bộ Gia phả đầu tiên của họ tộc Nguyễn –Trương được dựng cơ bản, khá công phu. Từ Gia phả này, chúng ta kết nối dòng họ, đoàn kết gắn bó, thương yêu nhau hơn, ôn lại truyền thống

đẹp đẽ đáng tự hào của cha ông nội ngoại, tiếp tục giáo dục con cháu hãy sống xứng đáng với tổ tông.

Bộ Gia phả này hoàn thành đúng vào dịp chuẩn bị kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Ba tôi và 100 năm ngày sinh của Má tôi. Anh chị em chúng tôi coi đây là một món quà tưởng niệm kính dâng lên Ba Má tôi, tấm lòng thành của những đứa con.

Nhân đây thay mặt gia đình, tôi xin cảm ơn bà con dòng họ, cám ơn Nhóm Nghiên cứu và Thực hành Gia phả TP Hồ Chí Minh đã tận tâm dành gần nửa năm, vượt nhiều khó khăn để hoàn thành bộ gia phả này. (9-1999)

Năm 2013, Nhân kỷ niệm 70 năm ngày mất của Ba tôi,và 30 năm ngày mất của Má tôi, với số tư liệu rất nhiều từ trong nước và ở nước ngoài, gia đình tôi lại phối hợp với Trung tâm Nghiên cứu và Thực hành Gia phả TP .HCM (tên mới của Nhóm gia phả) tiến hành sửa chữa, bổ sung, nhứt là tiểu sử của cụ Nguyễn An Khương, ông Nguyễn An Ninh và bà Trương Thị Sáu (dựa trên Gia phả có sẳn), in mới, xứng tầm với công lao sự nghiệp của ông cha mình đối với gia tộc và xã hội.

Nay, bộ Gia phả Họ Nguyễn – Họ Trương mới đã hoàn chỉnh, xin được chánh thức ra mắt với bà con nội ngoại đã hết lòng ủng hộ chúng tôi.

TP.Hồ Chí Minh, ngày 15/12/2013

Kính báo

NGUYỄN THỊ MINH (đời IV)

HỌ NGUYỄN

Ở TRUNG CHÁNH - HÓC MÔN

(NGUYỄN AN NINH)

PHẢ KÝ

PHẢ KÝ

Phả là tập ghi gốc gác tiến trình của một nhà, một họ. Phả khác với Sử ở chỗ Sử bao gồm các sự kiện hưng suy của từng triều đại, các sự việc của nhiều dòng họ có liên quan mật thiết tới quốc gia, đại cuộc. Phả ghi lịch sử một dòng họ. Nước có sử, nhà có phả. Song sử có tầm quan trọng của sử và phả có tầm quan trọng của phả.

Các nhà sử học quan niệm rằng: “Lịch sử là sinh mạng của quốc gia, dân tộc. Nó có tính chất truy cứu ở quá khứ, hiện tại và cả tương lai. Việc tìm hiểu nghiên cứu lịch sử không chỉ ở quá khứ mà phải hiểu rõ hiện tại và dự đoán cả tương lai.

Từ đó mà suy, việc nghiên cứu, am hiểu lịch sử một nhà – tức việc dựng gia phả - cũng vậy, không chỉ tìm hiểu ở nguồn gốc, lai lịch quá khứ của một họ tộc là đủ mà phải đi sâu tìm hiểu, dự liệu cho tương lai của gia đình, dòng họ đó. Cho nên dựng bộ gia phả này, chép rõ cội nguồn, truyền nối từng đời trải qua các thời kỳ lịch sử từ Lê, Trịnh đàng Ngoài, đến khi Nguyễn Hoàng theo lời sấm “Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân”, vượt đèo Ngang vào trấn Thuận hóa, rồi làm cuộc Nam tiến mở cõi vào đến phương Nam, đến nay đã hơn 300 năm, là một quá trình lưu truyền con cháu, đời này tiếp nối đời khác, tạo nên dòng nên họ.

Đầu thế kỷ XIX, Nguyễn Ánh thống nhất sơn hà không lâu, người Pháp kéo đến thống trị nước ta. Nhưng ngay từ đó, người Việt Nam gồm các dòng họ, trong đó có họ ta vốn có truyền thống đấu tranh anh dũng, đã đứng lên chống giặc ngay từ khi giặc Tây đánh vào cửa Cần Giờ. Và liên tiếp sau đó, ngay từ đầu thế kỷ XX từ các phong trào yêu nước trước khi có Đảng đến hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ của Nam Bộ, dân tộc ta đã phát huy truyền thống quật khởi chống ngoại xâm của tổ tiên để giành độc lập cho Tổ quốc, để có ngày toàn thắng mùa xuân năm 1975, và cũng từ thế hệ ông cha của chúng ta đã hiến dâng cả cuộc đời cùng dân tộc viết nên những trang sử vẻ vang đầy tự hào của một dân tộc tuy nhỏ bé nhưng đầy chí khí anh hùng và thắm đẫm tình nhân loại.

Giờ đây, năm 1999, gần cuối thiên niên kỷ, bước qua năm 2000, lớp thế hệ con cháu chúng ta có điều kiện ngẫm lại, thấy rằng chúng ta đã làm tròn nghĩa vụ đối với Tổ quốc, nên thời gian này xin dành cho việc thực hiện các việc khác trong dòng họ, trong đó có việc tổ chức viết gia phả cho cha ông và họ Nguyễn họ Trương chúng ta.

PHÁT TÍCH DÒNG HỌ

Thủy tổ là ông Đoàn Doãn Nghi (Mậu Ngọ 1678- Kỷ Dậu 1729), danh sĩ thời Lê Hy Tông ( 1675 – 1705 ), nhằm thời Tây vương Trịnh

Tạc (1657 -1682) và Định vương Trịnh Căn (1682 – 1709). Ông nội là Lê Công Nẫm, cha là Lê Công Vị (từ ông Doãn Nghi mới đổi họ Đoàn) vẫn ở quê cha là xã Hiếu Phạm. Ông có hai vợ.

Bà chánh thất họ Nguyễn sinh ra Đoàn Doãn Sĩ

Bà thứ thất họ Võ sinh ra Đoàn Doãn Luân và Đoàn Thị Điểm.

Ông Đoàn Doãn Sĩ đem gia quyến về ở vùng Kinh Môn, Nam Sách. Ông Doãn Luân và bà Thị Điểm theo cha về ở làng Lạc Viễn, huyện An Dương ( đều thuộc tỉnh Hải Dương). Ông Đoàn Doãn Nghi mất năm 1729, lúc 51 tuổi. Linh cữu ông được đưa về quê an táng, tên thụy của ông là Ôn Thứ, hiệu là Dương Kinh Tiên sinh:

Ông Đoàn Doãn Luân hay Đoàn Công Luân (Canh Thìn 1700 - ?) có nơi chép là Đoàn Trác Luân hoặc Nguyễn Trác Luân. Ông đỗ Hoàng giáp khoa Kỷ Hợi 1719, là danh sĩ đời Lê Dụ Tông (1705 – 1729) ngang đời An Đô vương Trịnh Cương (1709 – 1729). Ông hiệu là Tuyết Am, tự là Đạm Như Phủ.

Ông và em gái Đoàn Thị Điểm nổi tiếng tài hoa nhưng không theo đường công danh chỉ ở nhà dạy học. Tính ông trung hậu, khi định lập gia đình, đi dạm hỏi con gái ông Lê Hữu Mưu. Hôn nhân chưa thành thì vị hôn thê bị bệnh đậu mùa, rỗ mặt. Nhà gái ngại ông chê nên muốn thoái thác, ông không đổi ý vẫn xin cưới về làm vợ.

Khi cha mất, ông đưa về quê an táng, rồi đi dạy học ở làng Vô Ngại, huyện Đường Hào ( nay là Mỹ Hào ). Ông đưa mẹ và em gái về ở chung. Nhưng rồi ông mất để lại mẹ và vợ con, gánh nặng trao về tay em gái Đoàn Thị Điểm.

Bà Đoàn Thị Điểm (Ất Dậu 1705 – Bính Dần 1746), hiệu là Hồng Hà nữ sĩ. Năm 16 tuổi được Thượng thư Lê Anh Tuấn (Tân Hợi 1671 – Bính Thìn 1736) thời Lê Hy Tông xin làm con nuôi để tiến cung làm phi tần. nhưng được ít lâu, bà xin về cùng anh trau dồi học tập trở nên người thông thạo văn chương. Sau khi cha mất bà 25 tuổi, nhiều người đến dạm hỏi nhưng bà đều từ chối.

Khi anh mất, bà đảm nhận gánh nặng gia đình. Có người ở huyện Đường Hào dâng con gái tiến cung nên mời bà vào làm thầy dạy cho cô gái ấy. Năm Kỷ Mùi 1739, trong nước loạn lạc, làng My Thứ bị tàn phá, bà từ chức về chăm sóc gia đình và dạy học ở làng Chương Dương

Sau đó, bà lập gia đình với Tiến sĩ Nguyễn Kiều, người huyện Từ Liêm. Nhưng ngày chồng đi nhận nhiệm sở ở Nghệ An thì bà mất vào ngày 11 tháng 8 năm Bính Dần 1746, hưởng dương 42 tuổi.

Bà là người dịch ra Nôm bản Chinh Phụ Ngâm Khúc của Đặng Trần Côn (có nơi nói bản dịch đó là của Phan Huy Ích) và sáng tác tập Truyền Kỳ Tân Phả tức Tục Truyền Kỳ, gồm 6 truyện : Bích Câu Kỳ Ngộ, Hải Khẩu Linh Từ, Vân Cát Thần Nữ, Hoành Sơn Tiền Cuộc, An Ấp Liệt Nữ và Nghĩa Khuyển Khất Miêu.

Về ông Nguyễn Kiều (1694 -1771), chồng bà Đoàn Thị Điểm.

Ông sinh năm Giáp Tuất 1694, mất năm Tân Mão 1771. Ông hiệu là Hạo Hiên, quê ở huyện Từ Liêm. Ông đỗ Tiến sĩ khoa Ất Mùi 1715 – thời Lê Dụ Tông – làm chức Đô Ngự sử, có đi sứ Trung Quốc. Khi về nước, được bổ làm Đốc đồng Nghệ An, khi lên đường nhậm chức thì vợ mất. Ông có sáng tác quyển Hạo Hiên Thi Tập

Tư liệu viết thêm về họ Đoàn.

Bà Đoàn Lệnh Hương (Bính Ngọ 1726 – Canh Thân 1800), nữ sĩ thời Lê Ý Tông (1735 -1740), Uy Nam vương Trịnh Giang (1729 – 1740). Bà là con gái lớn của Đoàn Doãn Luân, gọi Đoàn Thị Điểm là cô ruột. lúc 9 tuổi, nhờ ông thúc tổ bên ngoại là Lê Hữu Kiều (em ông Lê Hữu Mưu) bão dưỡng. Lớn lên bà nổi danh tài sắc, nhưng đến 31 tuổi bà mới lập gia đình với ông Nguyễn Xuân Huy đã trên 40 tuổi, là người góa vợ làm quan Đốc đồng Sơn Nam và sinh được một con gái nhưng chết nhỏ lúc lên 2. Sống với nhau trên 7 năm (1760) thì chồng mất. Bà cô đơn góa bụa bèn lên kinh đô dạy học, được gọi là Nữ Học sư. Năm 60 tuổi bà về ở với em là Đoàn Doãn Y rồi mất, thọ 74 tuổi

THỜI KỲ VÀO MIỀN TRUNG

Trong họ Nguyễn ta ngày nay còn lưu hành tư liệu nói về thủy tổ họ Đoàn khi vào miền Trung.

Tập gia phả “ Đoàn tộc trước kia và họ Nguyễn ngày nay” do ông Nguyễn Thành Công ở Quy Nhơn lập ngày 10 tháng 01 năm 1990. Ông Công là cháu trực hệ 5 đời thuộc chi ông Đoàn Công Điêu, có nói rằng: dựa vào những bản gia phả cũ truyền lại, sơ lược như sau:

Ông Đoàn Công Luân sinh 4 người con là Đoàn Công Chấn, Đoàn Công Đại, Đoàn Công Điêu và Đoàn Công Hòa. Bốn ông này đứng lên chống lại chúa Trịnh, bị đàn áp. Ông Đoàn Công Chấn bị giết, ba ông còn lại phải bỏ trốn vào Đàng Trong nơi huyện Tuy Viễn (không phải Tri Viễn như tập gia phả đã ghi), phủ Hoài Nhơn. Các ông đã thay tên đổi họ khai khẩn lập làng, nay là làng Đại Lợi, xã Cát Nhơn, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định.

Ông Đoàn Công Đại đổi tên là Nguyễn Văn Thành.

Ông Đoàn Công Điêu đổi tên là Nguyễn Văn Trung

Ông Đoàn Công Hòa đổi tên là Nguyễn Chuẩn Trực.

Về hai ông Nguyễn Văn Thành và Nguyễn Văn Trung định cư ở đây sanh con đẻ cháu cho đến ngày nay. Trong đó ông Nguyễn Xuân Viên tức Tú Kiên, đổ Tú tài, theo phong trào Duy Tân hoạt động, bị Pháp

bắt đày đi Côn Đảo và chết ở đảo ngày 27 tháng 11 năm 1939. Người em gái là Nguyễn Thị Hiệu gả cho ông Đào khả Ái, cháu nội cụ Đào Tấn, nhà soạn tuồng nổi tiếng.

Về ông Đoàn Công Hòa (Nguyễn Chuẩn Trực) sanh 4 người con, trong đó có ông Nguyễn An Nghi.

Ông Nguyễn An Nghi lớn lên lập gia đình với bà Nguyễn Thị Chuân, sanh hạ 3 con là Nguyễn Thị Thắng, Nguyễn Sơn Phiên và bà Tư Thừa rồi bỏ vào Nam với ý đồ lập đồn điền lâu dài, ông lập gia đình lần hai với bà Dương Thị Tiền tức là ông bà tổ phụ mẫu chúng ta bây giờ.

THỜI KỲ KHAI CANH TẠI MIỀN NAM

Ông Nguyễn An Nghi, sanh năm Giáp Thân 1824, nguyên quán ở thôn Liêm Lợi, tổng Háo Đức Hạ, phủ An Nhơn, tỉnh Bình Định. Ở nguyên quán ông có 3 người con rồi một mình đi vào Nam lúc độ ngoài 30 tuổi. Khi ấy ở Nam Kỳ giặc Pháp chưa đến.

Ở Nam Kỳ ông kết duyên với bà Dương Thị Tiền, người thôn Phước Quảng, thuộc tổng Long Hưng Trung, huyện Tân Long, phủ Tân Bình, (nay là một ấp của xã Phước Lợi, huyện Bến Lức, tỉnh Long An). Ông mất tại đây năm 1886, thọ 62 tuổi

Tháng 3 năm 1861, Pháp chiếm huyện lỵ Phước Lộc (Cần Giuộc). Như đa số người dân lưu tán đi khai cơ lập nghiệp khác, ông cũng lâm vào hoàn cảnh:

“Mấy dặm Gò Đen, Rạch Kiến, ngọn lửa thiêu sự nghiệp sạch không

Đòi nơi Rạch Lá, Gò Công, trận gió quét cửa nhà trống rỗng…”

(Nguyễn Đình Chiểu)

Đây là lúc các cuộc khởi nghĩa nổi lên chống Pháp do Trần Kỳ Phong, Huỳnh Khắc Nhượng, Bùi Quang Diệu, Phạm Tiến, Trương Định lãnh đạo đã diễn ra ở vùng này, ông Nghi tham gia nghĩa quân của tướng Trương Định, khi Tướng quân hy sinh nghĩa binh tan rả, ông Nghi về sống tại quê vợ. Khi mất ông được an táng tại thôn Phước Quảng, quê vợ Dương Thị Tiền. Sau này, ngày 24 tháng chạp năm 1993, con cháu ông Bảy Cư đã cải táng về khu thổ mộ gia đình ở Tân Xuân, huyện Hóc Môn.

Bà Dương Thị Tiền sanh năm Đinh Dậu 1837, ở thôn Phước Quảng, nơi có con rạch Bà Đắc chảy ngang làm ranh giới với thôn Phước Vân. Ngày nay ở vùng này còn nhiều người họ Dương nhưng không ai biết rõ về bà. Qua khảo sát chúng tôi được các người họ Phan ở đây (là cháu nội của Phan Công Danh, Phan Công Giáo ) cho biết: Thân mẫu bà Dương Thị Tiền họ Phan, là em của ông Phan Long Đủ, Ông Đủ sanh ra Phan Công Danh, Phan Công Giáo (Hương bộ Giáo) thuộc gia đình trung

lưu ở Phước Quảng. Khi ông Nghi mất được họ Phan lo liệu nhiều mặt và cho an táng nơi ruộng họ Phan. Nay dấu vết vẫn còn sau khi đã cải táng. Khoảnh ruộng nầy diện tích 1 mẫu 6,2 cao được ông Cư mua lại của họ Phan và cúng cho đình Phước Quảng. Ngày nay, tuy ruộng đã thuộc về nông dân nhưng ngoài nghĩa vụ thuế, họ vẫn trích nộp hoa lợi vào quỹ của Đình.

Khoảng cuối đời, bà Tiền lên Sài Gòn sống tại Chiêu Nam Lầu với các con và mất năm 1905, sau ông Nghi 19 năm, thọ 68 tuổi. Mộ bà được an táng tại nghĩa địa Chí Hòa. Qua năm 1929, ông Cư lại cải táng về Tân Xuân và ngày nay phần mộ ông bà đã được nằm cạnh nhau.

Trong các sách báo, tư liệu, người ta thường viết: “ gốc ông Nguyễn An Ninh ở Phước Lý, huyện Cần Giuộc, Long An; cũng có nơi nói ở Mỹ Huề huyện Hóc Môn”. Nhân đây cũng xin nói lại cho rõ; Thực tế tổ phụ Nguyễn An Nghi lúc mới vào ở Phước Lý, sau lấy vợ về ở Phước Quảng. Phước Quảng là tên một thôn xưa, nay đã sáp nhập thành ấp 2 xã Phước Lợi, gọi theo dân gian là xứ Gò Đen. Nơi đây có con đường làng (Route communal n0 15). Từ Gò Đen qua rạch Bà Đắc đi Phước Vân, Long Sơn. Nếu vạch một đường từ tây sang đông ta sẽ có Phước Lợi, Phước Lý, Long Thượng.

Ngày nay, Phước Lợi thuộc huyện Bến Lức, Phước Lý và Long Thượng thuộc huyện Cần Giuộc, Long An. Long Thượng là quê hương bà Trương Thị Ngự, vợ ông Nguyễn An Khương.

Địa danh Mỹ Huề phát âm trại của chữ Mỹ Hòa, từ thôn Mỹ Hòa (Cây Gỏ Đôi) nay thành ấp Mỹ Hòa thuộc xã Tân Xuân, huyện Hóc Môn. Thực sự đất và nhà ông Nguyễn An Khương phần lớn thuộc thôn Trung Chánh, sau đổi là Trung Mỹ Tây, sát con đường làng (hương lộ 80) và một ít đất bên kia hương lộ thuộc thôn Mỹ Huề, đây cũng là nơi ở của vợ chồng nhà yêu nước Nguyễn An Ninh trong thời gian hoạt động chính trị. Hiện nay đất này thuộc phường Trung Mỹ Tây, Quận 12 (tách ra từ huyện Hóc Môn), thành phố Hồ Chí Minh.

Trong tập gia phả này, ta gọi tổ phụ Nguyễn An Nghi là đời I.

Đời II là các con của ông: Nguyễn Thị Xuyên, Nguyễn An Khương, Nguyễn An Cư.

Đời III là Nguyễn An Ninh (con ông Khương) và Nguyễn Thị Lạc (con ông Cư)

Đời IV là con ông Ninh và con bà Lạc

Đời V là các cháu nội, ngoại của ông Ninh và bà Lạc.

Hành trạng về cuộc đời của từng thế hệ xin xem ở phần phả hệ và ký sự sau.

KẾT LUẬN

Cây có cội, nước có nguồn. Chim có tổ , người có tông. Đó là chân lý, là truyền thống ngàn đời. Các họ tộc của nhân dân ta hiện nay ai cũng quan tâm, bức xúc tìm về cội nguồn của dòng họ mình.

Dòng họ chúng ta, nếu tính từ ông tổ Nguyễn An Nghi đến nay cũng mới được 5 đời, hậu duệ cũng không đông đảo mấy. Một mình đơn độc vào Nam, không có họ hàng nên lúc đầu ông sống cô đơn vất vả trăm bề ít người hiểu rõ. Chỉ biết một điều là ông giỏi về Nho y và đã đem kiến thức ấy truyền lại cho con mình. Việc tìm rõ nguồn cội là do ông Nguyễn An Cư từ năm 1940 và sau khi thống nhất đất nước 1975 Nguyễn An Tịnh đã dành 20 năm sưu tầm mới được sáng tỏ dần. Con cháu ngày nay mong muốn biên chép tiếp hành trạng các đời để báo hiếu tổ tiên và lưu truyền cho con cháu đời sau được biết, để giữ gìn truyền thống thanh danh dòng họ.

Thế hệ thứ hai họ Nguyễn có mặt đúng lúc người Pháp đặt ách thống trị lên nhân dân ta, luồng gió “văn minh” Tây phương thổi đến. Thời cuộc diễn biến khá phức tạp. Nếu những ai đó ý chí không vững vàng, không cương quyết, không vượt nổi số phận sẽ dễ dàng bị vấp ngã, bị vùi dập và tiêu tan. Nhưng người họ ta không dễ bị khuất phục, cuộc đời và sự nghiệp đã lộ ra nhiều yếu tố sáng chói khác thường.

Ông Nguyễn An Khương am hiểu Nho y, thông thạo Nho học quốc ngữ, lại có chí lớn. Ngoài đời dốc hết tâm lực gầy dựng cơ sở cách mạng, tổ chức kinh tài, dựng Chiêu Nam Lầu giúp phương tiện, tiền bạc, đưa thanh niên đi du học nước ngoài, bàn việc quốc gia đại sự với Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Trần Chánh Chiếu, Nguyễn Thần Hiến, Võ Hoành, Nguyễn Quyền và là bạn thân thiết với Nguyễn Chánh Sắc, Nguyễn Sinh Huy, viết báo, dịch truyện Tàu, vv… Bên trong gia đình thì giáo dục con cái giữ nếp gia phong, cách ở trong đời cho đến việc đặt tên con. Nhất là hun đúc tinh thần yêu nước cho con trai duy nhất là Nguyễn An Ninh – từ ý câu “Ninh thọ tử bất ninh thọ nhục” (thà chịu chết không chịu nhục) -.

Ông Nguyễn An Cư là người giỏi y thuật, sớm năng nổ kinh doanh bằng nghề y, mở nhà thuốc, coi mạch, cho toa, bốc thuốc có tiếng giàu có, khắp vùng Hốc Môn – Bà Điểm ai cũng biết danh. Về chí hướng và chánh kiến, ông Cư có điều khác với ông Nguyễn An Khương. Điều mà trong họ đau buồn, nhân dân còn tiếp tục phê phán ông Cư là chổ ông Cư theo Nhật, mang tiếng là Việt gian là việc làm sai chính trị. Về nội bộ gia đình cũng có những việc tạo ra sự mâu thuẫn, bắt đầu từ những việc như:

ông Bảy Cư đến xem mạch trị bệnh cho cụ Phan Châu Trinh, đòi tiền khám bệnh, bị ông Sáu Khương mắng là kẻ thất đức. Tiếp theo là việc khi gia đình Nguyễn An Ninh bị bắt buộc sống biệt xứ ở Mỹ Tho, rồi lại bị bắt lần chót vào tháng 9 năm 1939 thì ông Cư sai người đến hạ

bảng hiệu, không cho bà Ninh làm đại lý bán thuốc nữa. Việc bà Xuyên lâm bệnh sắp mất, nằm liệt giường, ông Cư là em ruột, mà từ chối không chịu đến giúp đỡ và chăm sóc dù nhà ông cũng đang ở Hóc Môn, về sau lại để thất lạc mộ bà Xuyên khi chế độ Ngô Đình Diệm chiếm khu đất xây nhà thờ giáo xứ Bạch đằng. Điều này người trong họ ai cũng biết, nói ra là rất khổ tâm, không ghi lại thì con cháu không rõ những gì là phải trái, làm cơ sở cho việc hóa giải hiện nay trong họ tộc.

Từ các việc trên vào thời ấy giữa hai anh em và con cháu đã giận nhau.

Ông Cư có con nuôi là Nguyễn An Ngỡi, theo Pháp , bị Việt Minh giết.

Hiện nay, khu lưu niệm Nguyễn An Ninh đã có chủ trương của chính quyền thành phố sẽ được xây dựng vào năm 2000 để ghi nhớ công lao của “Nhà cách mạng yêu nước có tầm vóc lịch sử”. Riêng phần gia đình sau khi đã xuất bản tập “Nguyễn An Ninh”, tập Hồi ký “Cùng Anh đi suốt cuộc đời” của bà Trương Thị Sáu và nay lại dựng bộ Gia phả cho tộc họ mình. Nhờ sự giúp sức tích cực của Nhóm Nghiên cứu và Thực hành Gia phả thành phố Hồ Chí Minh qua việc sưu tầm tư liệu, phỏng vấn nhiều người, đi điền dã nhiều nơi liên tục trong ba tháng từ tháng 6 đến tháng 8 năm 1999. Nay bộ Gia phả họ Nguyễn ở Trung Chánh và họ Trương ở Phước Lại đã hoàn thành, xin kính dâng lên Ông Bà và công bố cùng thân tộc.

Mục đích dựng Gia phả không phải để phô trương thanh thế, không phải để ỷ lại tâng công hoặc phê phán khen chê tổ tiên, ông bà mà để làm một bộ “Sử gia đình” ghi chép trung thực, khách quan, khoa học những điều cần thiết trong phạm vi dòng họ để biết về nguồn cội tổ tiên, nhớ ngày húy kỵ, mồ mả ông bà. Lấy đó để soi rọi bản thân hầu học tập điều hay, lẽ phải, loại bỏ những điều dở nếu có để con cháu ta dù có làm gì, ở đâu cũng tránh được việc sái quấy không làm tủi hổ vong linh Ông Bà. Mong rằng con cháu dù nội hay ngoại cũng đều là máu mủ, ruột rà nên hãy đoàn kết, thương yêu nhau, chị ngã em nâng, môi hở răng lạnh. Hơn nữa, gia đình ta thuộc hàng danh giá, ta phải có trách nhiệm giữ gìn và phát huy gia phong, gia đạo, gia pháp và truyền thống yêu nước, cách mạng sáng chói đã được lịch sử công nhận. Càng nên nhớ câu “ Giấy rách phải giữ lấy lề” bởi gia đình có nề nếp, bền chặt keo sơn thì xã hội mới tốt đẹp bền vững ngàn đời.

Xin mượn lời của nhà cách mạng Nguyễn An Ninh nói về văn hóa truyền thống dân tộc để kết luận bài này :

“Nếu như những vĩ nhân đã chết vẫn đang dìu dắt số phận một dân tộc, thì cũng phải nói rằng tất cả những người quá cố khác không

phải không có tác dụng gì đối với những người đang sống. Mỗi người quá cố đang góp phần vào việc xây dựng nhân cách cho con cháu, trước hết từ trong dòng họ mình” (1)

…Cây có gốc mới nở cành xanh lá

Nước có nguồn mới biển cả sông sâu

Người ta nguồn gốc từ đâu?

Gốc từ Tiên Tổ rồi sau có mình…

_____________________

(1)Trích trong quyển “Nguyễn An Ninh tác phẩm”, trang 155, bài “Trật tự và hổn loạn”.

PHẢ HỆ


ĐỜI I

NGUYỄN AN NGHI

Giáp Thân 1824-Bính Tuất 1886

Giỗ mùng 08 tháng 7 âm lịch

DƯƠNG THỊ TIỀN

Đinh Dậu 1837 – Ất Tỵ 1905

Giỗ mùng 10 tháng 7 âm lịch

Ông Tổ Nguyễn An Nghi vốn người ở Bình Định, đã có vợ và 3 con ở đó. Ông là người có học, được dòng họ cử làm Lý trưởng, ông vốn không thích nên khi vua Tự Đức cho phép dân khai phá đồn điền ở Nam Kỳ, ông quyết tâm tạo cơ nghiệp nên bỏ làng vào Nam khi tuổi độ ngoài 30. Lúc đó là thời kỳ đầu niên hiệu Tự Đức trước khi người Pháp đến.

Ông lập gia đình lần nữa với bà Dương Thị Tiền, người thôn Phước Quảng (2).

Khi Pháp chiếm Nam Kỳ, nhiều cuộc khởi nghĩa chống lại sự xâm lược, ông tham gia nghĩa quân Trương Định. Ông là một danh y, một nhà nho hiểu biết và yêu nước.

Ông Nghi khi mới vào Nam ở thôn Phước Lý, sau khi kết hôn với bà Tiền ông về ở Phước Quảng quê vợ. Ông mất năm Bính Tuất 1886, thọ 62 tuổi. Lúc này bộ máy cai trị của người Pháp đã bố trí xong ở Nam Kỳ Lục tỉnh, ông thất chí, thường than thân trách phận lúc cuối đời. Mộ ông được táng trong đất của họ Phan ( thân tộc của bà Dương Thị Tiền) xây bằng đá xanh. Đến ngày 24 tháng chạp 1993, con gái ông Cư, vâng theo di huấn của cha đã thiên táng về Tân Xuân đặt nằm gần mộ bà Dương Thị Tiền, nơi ông Cư chọn làm khu mộ táng cho mình.

Bà Dương Thị Tiền người thôn Phước Quảng, không rõ gốc gác, chỉ biết thân mẫu bà là họ Phan. Bà Tiền gọi ông Phan Long Đủ là anh con Cậu. Con ông Đủ là Phan Công Danh, Phan Công Giáo cùng giao du với Nguyễn An Cư. Ông Phan Long Đủ là người giúp an táng ông Nguyễn An Nghi trong đất nhà mình. Ông mất trước do tuổi già. Bà sống với con gái là Nguyễn Thị Xuyên nơi Chiêu Nam Lầu rồi mất năm 1905. Mộ bà được an táng tại nghĩa địa Chí Hòa. Đến năm 1929, ông Cư mới cải táng về đất nhà ở Tân xuân, dựng mộ bia có khắc chữ Nho. Ngày nay mộ ông bà được táng song hồn.

Ông Nguyễn An Nghi và bà Dương Thị Tiền sanh hạ 3 người con: 1 nữ 2 nam (lấy thứ tự tiếp theo 3 người con trước của ông ở Bình Định):

Thứ năm : Nguyễn Thị Xuyên (1856 -1940)

Thứ sáu : Nguyễn An Khương (1860 – 1931)

Thứ bảy : Nguyễn An Cư (1864 – 1949)

----------------------

(2) Phước Quảng: tên thôn xưa thuộc tổng Long Hưng Trung, Huyện Tân Long, phủ Tân Bình. Thời Pháp thuộc là tổng Phước Điền Thượng, tỉnh Chợ Lớn, Ngày nay Phước Quảng đã sáp nhập vào xã Phước Lợi thuộc huyện Bến Lức, tỉnh Long An. Xin xem phần phụ lục về địa giới thôn Phước Quảng.

ĐỜI II

CON ÔNG NGUYỄN AN NGHI VÀ BÀ DƯƠNG THỊ TIỀN

5. NGUYỄN THỊ XUYÊN

(1856 – 1940 )

Bà Nguyễn Thị Xuyên là con gái thứ năm của ông Nguyễn An Nghi và bà Dương Thị Tiền, bà sanh năm 1856 Bính Thìn, mất năm 1940 Canh Thìn.

Bà sống độc thân, không chồng con. Khi còn trẻ bà phụng dưỡng cha mẹ già. Sau khi cha mất, bà cùng mẹ và các em về sống tại Tân An. Bà giúp em là ông Khương tổ chức in sách dịch. Sau này đã thay em là An Khương quản lý khách sạn Chiêu Nam Lầu nên bà còn được gọi là bà Chiêu Nam Lầu. Chiêu Nam Lầu lúc đầu là tiệm may và cho thuê phòng trọ, sau mở thêm tiệm cơm để lấy tiền giúp đở cho phong trào Duy Tân và Đông Du.

Ông hoàng Cường Để rất mến mộ bà, người phụ nữ đẹp, giỏi giang, có học và đầy nghị lực, hết lòng giúp đở các nhà yêu nước trong phong trào Đông Du. Mỗi lần ở Nhật bí mật về Sài Gòn, ông đều tá túc tại Chiêu Nam Lầu gặp gở đàm đạo với bà, và cũng không ít lần bọn Pháp rình rập bắt ông, bà Chiêu Nam Lầu đều tổ chức cho ông trốn thoát.

Thời gian đó có vị khách trọ là một ông Hoàng người Miến Điện tên là Mangoon do hoạt động yêu nước chống lại chủ nghĩa cai trị của đế quốc Anh nên bị trục xuất khỏi Miến Điện, ông Hoàng sang Sài Gòn sống, lúc đầu ở khách sạn Continental, sau đó hết tiền bị đuổi ra khỏi khách sạn. Có một người bồi Việt Nam mách với ông hãy đến khách sạn Chiêu Nam Lầu, bà chủ là người phúc hậu, có thể trợ giúp cho ông. Ông đến Chiêu Nam Lầu và được cưu mang cho đến lúc chết. Ông tạ ơn bà bằng cách cho bà một toa thuốc gia bảo của Miến Điện và hướng dẫn cách nấu dầu cù là. Năm 1931, Khi ông Nguyễn An Ninh ra tù lần thứ hai, bà Ninh có cô Năm Xuyên hướng dẫn nấu dầu cù là để sinh sống, lấy nhãn hiệu là cù là An Ninh. Ông Ninh sau đó vịn cớ đi bán dầu suốt 3 năm cùng với ông Nguyễn Văn Trân từ năm 1932 đến năm 1935 đi khắp Nam kỳ để bàn giao cốt cán Thanh Niên Cao Vọng cho Đảng Cộng Sản. Sau này một số đảng viên khác cũng bắt chước đến nhận dầu cù là của bà Năm Xuyên và bà Ninh đi bán để che mắt bọn mật thám khi đi vận động quần chúng.

Năm 1926, khi Chiêu Nam Lầu bị khủng bố gắt gao không còn hoạt động, bà về quê ở cùng em Nguyễn An Khương nơi Mỹ Huề. Năm 1939 bà đau nặng - lúc này Nguyễn An Khương đã mất, còn gia đình Nguyễn An Ninh bị lưu đày ở Mỹ Tho - em ruột là Nguyễn An Cư không chăm sóc gì nên bệnh ngày càng nặng. Đến khi bà Ninh hay tin thu xếp về thì đã quá muộn, bà mất năm 1940, trong nhà không còn tiền lo hậu sự, phải nhờ bạn bè làng xóm giúp đỡ. Mộ bà nằm trong đất nhà. Năm 1955, đất bị chính quyền cũ trưng dụng làm khu giáo xứ. do em và cháu ở tại đây sơ suất không di dời nên mộ bà đã bị thất lạc và không còn ai nhớ ngày mất vì vậy cũng không cúng giỗ.

clip_image002

6. NGUYỄN AN KHƯƠNG

1860 – 1931

Giỗ ngày 15 tháng 12 âm lịch

1. TRƯƠNG THỊ NGỰ

(1873-1911)

Giỗ ngày 26 tháng 5 âm lịch

2. MAI THỊ NỮ (1887- 1968)

Giỗ ngày 22 tháng 2 âm lịch

clip_image004 clip_image006

Di ảnh ông Nguyễn An Khương Di ảnh bà Trương Thị Ngự

Ông Nguyễn An Khương là con trai thứ sáu của ông Nguyễn An Nghi và bà Dương Thị Tiền. Ông sanh năm Canh Thân 1860, mất ngày 15 tháng 12 Canh Ngọ (nhằm ngày 02-02-1931 dương lịch).

Ông có hai bà :

- Bà Trương Thị Ngự sanh năm Quý Dậu 1873, mất ngày 26 tháng 5 Tân Hợi (nhằm ngày 22-6-1911 dương lịch).

- Bà Mai Thị Nữ sanh năm Đinh Hợi 1887, mất ngày 22 tháng 2 Mậu Thân (1968).

Ông tinh thông Hán học, y học, giỏi chữ quốc ngữ, có tinh thần yêu nước, nhiệt tình hưởng ứng phong trào Duy Tân. Ông mở trường dạy học ở Tân An, tự soạn sách giáo khoa dạy cho trẻ nhỏ, dịch truyện Tàu để nuôi sống cả gia đình. Sau khi lấy vợ và có con trai đầu đến tuổi đi học, ông quyết định lên Sài Gòn cho con vào trường và thực hiện ước mơ gầy dựng sự nghiệp. Vào cuối thế kỷ XIX, ông tạo lập khách sạn Chiêu Nam Lầu tại đường Kinh Lấp (nay là đường Nguyễn Huệ). Chiêu Nam Lầu sau đó là cơ sở của phong trào Đông Du ở Nam Kỳ, giúp phương

tiện và tiền bạc đưa thanh niên ra nước ngoài học tập để về phụng sự Tổ quốc. Khoảng năm 1900-1910, ông tham gia làm báo, ông dịch nhiều sách Tàu trước đó, có tiếng trong lịch sử văn học Việt Nam vào thời kỳ chữ quốc ngữ mới phôi thai, như: Tam Quốc Diễn Nghĩa, Thủy Hử, Phấn Trang Lầu, Tiết Nhơn Quý Chinh Đông, Tiết Đinh San Chinh Tây in ra chữ quốc ngữ, lưu hành trước Cách mạng Tháng Tám (xem tiểu sử phần phụ lục). Ông là người đã hun đúc tinh thần yêu nước cho con mình là Nguyễn An Ninh. Ông ở nhiều nơi như thị xã Tân An, Sài Gòn, Sau khi vợ mất, khoảng năm 1911 thì mua đất cất nhà ở Mỹ Hòa thuộc huyện Hóc Môn, tỉnh Gia Định và ở đó cho đến cuối đời.Vợ ông là bà Trương Thị Ngự, con ông Trương Dương Lợi (Thuộc Viên Lợi) ở làng Long Thượng, tổng Phước Điền Thượng, tỉnh Chợ Lớn. Đây là một gia đình giàu có, ruộng đất nơi Long Thượng và Tân Quý Tây có hơn trăm mẫu. Ngày 08-01-1925 gia tộc đứng ra tương phân ruộng đất, lúc này bà Trương Thị Ngự đã mất, ông Ninh thuộc hàng cháu ngoại nên được chia 7 sở ruộng ở Long Thượng và một sở ở Tân Quý Tây, cộng chung là 9ha 27a 20 và ông Nguyễn An Khương lúc ấy đã 64 tuổi ký nhận thay cho con là Nguyễn An Ninh vắng mặt. Trong những năm hoạt động cách mạng, đất này vắng chủ, những người trong dòng họ chiếm đoạt sử dụng, hiện nay không rõ ai làm chủ số đất này, các con ông Nguyễn An Ninh cũng không ai lên tiếng đòi lại.

Bà Trương Thị Ngự cùng chồng tạo lập và quản lý Chiêu Nam Lầu, nên bà Ngự thường xuyên sống tại Chiêu Nam Lầu cùng với mẹ chồng được bà Xuyên phụ giúp. Bà mất năm 1911 sau cơn bệnh nặng. Thân phụ bà là cụ Trương Dương Lợi quá thương con gái nên cho an táng ở đất nhà Long Thượng. Sau Cách mạng Tháng Tám, con cháu đều đi kháng chiến nên không ai cúng giỗ. Sau năm 1975, bà Ngự được Nhà nước truy tặng “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”. (kèm bản khai tử bà Ngự - Tông chi họ Trương).

clip_image008

Danh hiệu Bà Mẹ Việt Nam Anh Hùng

clip_image010

Bản khai tử bà Trương Thị Ngự

clip_image012

clip_image014

Bảng phân chia ruộng đất hương hỏa

clip_image016

clip_image018

Giấy tương phân ruộng đất

clip_image020

clip_image022 clip_image024

MỘ BÀ TRƯƠNG THỊ NGỰ Ở LONG THƯỢNG MỘ ÔNG TRƯƠNG DƯƠNG LỢI

THÂN PHỤ BÀ TRƯƠNG THỊ NGỰ

clip_image026

Bia mộ bà Trương Thị Ngự

Con của ông Nguyễn An Khương và bà Trương Thị Ngự:

Thứ hai : Nguyễn An Thái

Thứ ba : Nguyễn An Thường

Thứ tư : Nguyễn Thị Năng

Thứ năm : Nguyễn An Ninh.

Ba người con đầu chết lúc còn nhỏ, còn lại một mình Nguyễn An Ninh.

Bà Ngự mất, ông Khương về Hóc Môn sống và tục huyền với bà Mai Thị Nữ, quê ở Xuân Thới Thượng. Hai người ở với nhau không con. Bà Nữ có một con riêng được ông đùm bọc, nuôi dưỡng, đổi tên lại là Nguyễn An Hải.

Sinh thời ông Khương rất chú trọng đến việc dạy dỗ con cháu học chữ Nho, nên từ nhỏ Nguyễn An Ninh đã được gửi ở với ông Ngoại có thầy dạy chữ Nho, đến 10 tuổi ông mới cho lên Sài Gòn học, ngay việc đặt tên cho con cháu sao cho đẹp, có ý nghĩa và phải viết được bằng chữ Nho. Con trai phải có chữ An, con gái phải có chữ Thị, được con cháu

noi theo.Về già ông bị bệnh bán thân bất toại do tai biến mạch máu não ba lần, hai lần đầu còn tỉnh nên tự cứu được, lần sau hôn mê nên không qua khỏi. Mộ ông được táng trong đất nhà trên một gò cao. Năm 1955 đất bị trưng dụng như đã nói trên nên, mẹ con bà Nữ cải táng về phần đất mà ông Khương đã chia cho bà Nữ thuộc làng Mỹ Hòa bên kia hương lộ 80 chỉ cách một con đường làng, khu đất này trước đây ông khương xây nhà cho Nguyễn An Ninh sau khi Ninh cưới vợ. Lúc ông bệnh nặng đã làm giấy tặng cho bà Nữ, hiện nay con cháu bà Nữ vẫn còn ở nhưng đã bán gần hết khu đất này.

Hiện nay mộ ông Khương vẫn còn nằm trên đất của Lê Văn Khải là cháu cố bà Mai Thị Nữ phía sau ngôi nhà số 150/2 đường Nguyễn Ảnh Thủ. Còn mộ bà Trương Thị Ngự các cháu nội đã cải táng đưa hài cốt từ Long Thượng về tại Nhà Tưởng Niệm Nguyễn An Ninh năm 2002

clip_image027

7. NGUYỄN AN CƯ

(1864 – 1949 )

Giỗ ngày 12 tháng 7 âm lịch

1.TỐNG THỊ ĐỨC

2. CAO THỊ THÌNH (1879 -1949)

Giỗ ngày 10 tháng 01 âm lịch

clip_image029 clip_image031

Di ảnh ông Nguyễn An Cư Di ảnh bà Cao Thị Thình

Ông Nguyễn An Cư là con trai thứ bảy của ông Nguyễn An Nghi và bà Dương Thị Tiền. Ông sanh năm Giáp Tý 1864, mất ngày 12 tháng 7 năm Kỷ Sửu 1949, tại Phước Quảng, hiệu là Sàng Phu.

Ông thừa hưởng sự nghiệp Nho, y của thân phụ lại được anh kèm cặp dạy dỗ nên tinh thông y thuật. Lớn lên ông theo anh về Trung Chánh rồi sống tự lập với ngành y, mở nhà thuốc hiệu An Thanh Đường, sau đổi là Nguyễn An Cư Dược Phòng ở chợ Hóc Môn. Ngày nay còn truyền tụng phương thuốc rượu số 39 ( vì toa thuốc có 39 vị thuốc). Ông dạy nhiều học trò như Trần Kim Hoằng, Kiều Văn Thanh, Nguyễn Trung Hòa, v.v… đi xem mạch, bốc thuốc khắp nơi. Sau này ông sửa gọt lại các bản dịch truyện Tàu của Nguyễn An Khương và in ra phổ biến.

Người vợ đầu là Tống Thị Đức ở với ông 6 năm nhưng không có con nên họ chia tay nhau. Bà theo đạo Tin Lành, khi mất được an táng ở đất Thánh họ đạo tại Thị trấn Hóc Môn.

Người vợ kế là Cao Thị Thình, sinh năm Kỷ Mão 1879, mất ngày 10 tháng 01 năm Kỷ Sửu (1949), người Hoa sống ở chợ Hóc Môn. Hai ông bà có 2 con, 1 nam và một nữ.

Ngoài việc trị bệnh, ông cũng hay về quê cha mẹ ở Phước Quảng, giao du thân thiết với các vị cùng trang lứa như ông Lưu Văn Mảng (Cả Mãng), Phan Văn Giáo (Hương trưởng Giáo) và Hồ Văn Tư (Hương cả Cu). Do đó ông mới gả con gái cho con ông Cả Cu là Hội đồng Hồ Văn Thuộc. Ông lại mua ruộng của họ Phan và hiến cho đình Phước Quảng vào năm 1940. Ngày nay, ruộng ấy thuộc chủ quyền nông dân sở tại.

Ông nghiện thuốc phiện nặng, tài sản sau này đều bị nướng vào bàn đèn nha phiến.

Sách thuốc của ông cũng khá nhiều. Sau 1975, con gái ông đã hiến cho Hội Y học Dân tộc Thành phố Hồ Chí Minh, gồm 23 tựa sách, do ông Nguyễn Trung Hòa là học trò cũ ký nhận.

Sinh thời vào tháng 12 năm 1926, ông có mua một khoảnh đất 1067m2 của ông Phạm Văn Thắng và bà Trần Thị Đước ở làng Tân Thới Trung ( nay là ấp Chánh, xã Tân Xuân ) để làm ngôi sinh phần cho mình. Khu mộ ông được xây tường bằng đá xanh, mỗi cạnh 11m (121m2 ). Đây là nơi yên nghỉ của ông bà và của tổ phụ Nguyễn An Nghi – Dương Thị Tiền cùng vài thân nhân khác. Khu đất ấy ngày nay chỉ còn 500m2 vì đã sang nhượng bớt. Hiện giờ cháu ngoại của ông là Nguyễn Thị Hoa đang ở đó.

Con của ông Nguyễn An Cư và Cao Thị Thình:

Thứ hai : Nguyễn An Nhàn, sinh năm Tân Hợi 1911, chết lúc 5 tuổi.

Thứ ba : Nguyễn Thị Lạc.

clip_image033

Khu mộ ở Tân Xuân Hóc Môn nơi an nghỉ cụ Nguyễn An Nghi, Nguyên An Cư

CHI ÔNG

NGUYỄN AN KHƯƠNG


ĐỜI III

CON ÔNG NGUYỄN AN KHƯƠNG & BÀ TRƯƠNG THỊ NGỰ

NGUYỄN AN THÁI

(1892 -1905)

Giỗ ngày 18 tháng 4 âm lịch

Ông Nguyễn An Thái là con thứ hai của ông Nguyễn An Khương và bà Trương Thị Ngự. Ông sanh ngày 8 tháng 6 năm Nhâm Thìn (1892), bệnh mất vào giờ thân, ngày 18 tháng 4 năm Ất Tỵ (1905) lúc đang đi học ở trường Collège Mỹ Tho. Mộ táng ở đất nhà tại Trung Chánh. Năm 1955 đất bị trưng dụng nên cải táng theo cha. Trước đây không biết ngày sanh, mất nay nhờ mộ bia viết bằng chữ Nho mới rõ ngày sanh, ngày mất của ông.(hiện mộ nằm chung trong khu mộ với ông Nguyễn An Khương ở phía sau ngôi nhà số 150/2 đường Nguyễn Ảnh Thủ)

NGUYỄN AN THƯỜNG

Ông Nguyễn An Thường là con thứ ba của ông Nguyễn An Khương và bà Trương Thị Ngự. Ông chết nhỏ, không còn nhớ năm sanh, năm mất. Mộ chôn ở quê ngoại Long Thượng, nay đã thất lạc.

NGUYỄN THỊ NĂNG

Bà Nguyễn Thị Năng là con thứ tư của ông Nguyễn An Khương và bà Trương Thị Ngự. Bà chết nhỏ, không còn nhớ năm sanh, năm mất. Mộ chôn ở quê ngoại Long Thượng, nay đã thất lạc.

NGUYỄN AN NINH

(1900 – 1943)

Giỗ ngày 14 tháng 8 dương lịch

TRƯƠNG THỊ SA (SÁU)

(1899 – 1983)

Giỗ ngày 29 tháng 10 âm lịch

clip_image035

Ông Nguyễn An Ninh là con thứ năm của ông Nguyễn An Khương và bà Trương Thị Ngự. Ông Nguyễn An Ninh (hộ tịch ghi là Nguyễn Văn Ninh) sanh ngày 15 tháng 9 năm 1900, tại Long Thượng, mất ngày 14 tháng 8 năm 1943 (nhằm ngày 14-7 Quý Mùi) ở Côn Đảo. Ông mất hơn hai tháng gia đình mới biết tin, vừa kịp cúng 100 ngày của ông tại chùa Gò Vấp để vợ con chịu tang, cúng giỗ theo ngày dương lịch 14 tháng 8 là ngày bạn tù giỗ cho ông, và hiện nay lãnh đạo huyện Côn Đảo (BR-VT) vẫn cúng ngày đó.

Bà Trương Thị Sa (Sáu) quê ở Phước Lại, sanh ngày 26 tháng 6 năm 1899, mất ngày 03 tháng 12 năm 1983 (nhằm ngày 29-10 Quý Hợi) ở Thành phố Hồ Chí Minh, mộ táng ở Nghĩa trang Thành phố Hồ Chí Minh. Ngày nay các con cúng giỗ theo âm lịch.

Thuở nhỏ ông Ninh học chữ Nho ở quê ông ngoại, đến 10 tuổi mới lên học ở Sài Gòn. Ông bẩm tính thông minh, hiếu học, 18 tuổi xuất dương du học ở Pháp. Năm 1920 đỗ Cử nhân Luật. Thời gian ở Pháp có dịp tiếp xúc với nhiều nhà cách mạng Pháp và liên hệ với Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường và Nguyễn Ái Quốc. Khi về nước ông bắt đầu hoạt động cách mạng trong thế hợp pháp. Ông đi diễn thuyết, làm báo, viết sách, lập hội kín, năm lần đi Pháp, năm lần bị bắt, bị tù, lần chót là ngày 04 tháng 10 năm 1939 bị kết án 5 năm tù và đày ra Côn Đảo. Ở đảo

ông bị cách ly và kiệt sức, mất trong tù vào ngày 14 tháng 8 năm 1943. Mãi hơn 2 tháng sau tin từ bạn tù ngoài đảo đưa về, bà Sáu mới biết và đến chất vấn tên Bazin tại bót Catina thì chúng mới xác nhận điều đó. Ông là một nhà Cách mạng, nhà yêu nước vĩ đại suốt đời hoạt động không mệt mỏi.

Ông có một tủ sách lớn trên 2000 quyển, phần lớn là tiếng Pháp, sách về Chủ nghĩa Mác, văn học cổ điển, hiện đại của các nước nhờ người em rể họ đứng tên nhận giúp và sau năm 1945 do cháu vợ là Trương Văn Bang quản lý. Sau này ông Bang phân ra gửi cho họ hàng và chuyển vào chiến khu Rừng Sác nên bị giặc Pháp ruồng bố đốt sạch. Thật là tiếc cho tủ sách có một không hai ở Đông Dương thời ấy.

Bà Trương Thị Sa (lúc nhỏ gọi là Sò, trên giấy tờ gọi là Trương Thị Sáu). Cha là một người Hoa từ Trung Quốc sang, mẹ là người Việt ở Phước Lại. Bà là em út trong 5 anh chị em, mồ côi cha từ khi mới sanh. Gia đình lâm vào cảnh khó khăn, bà phải làm đủ mọi việc từ nhẹ đến nặng, cực nhọc trăm bề. Bà vốn tính cương quyết, không chịu nghèo hèn, quyết chí làm giàu từ tay trắng. Rời bỏ quê lên Sài Gòn sinh sống, bà tự lực làm ăn và dần dần khá lên từ đó. Rồi bà trở thành vợ Nguyễn An Ninh, về làm dâu ở nhà bên chồng. Bà trở thành người đồng chí của chồng trên con đường hoạt động Cách mạng, bà hy sinh cho lý tưởng của ông suốt cả cuộc đời.

Có thể nói rằng, đời hoạt động của ông Ninh có phần lớn công lao của bà. Bà vừa quán xuyến việc nhà, phụng dưỡng cha chồng, vừa thăm nuôi chồng, giúp đỡ bạn bè cùng hoạt động, vừa chăm sóc các con. Sau này tiếp tục sự nghiệp của chồng khi ông đã mất.

Từ sau Cách mạng Tháng Tám 1945, Pháp núp bóng quân Anh lấn chiếm Sài Gòn, bà tham gia cướp chính quyền ở Cần Giuộc rồi đưa các con về quê ở Phước Lại. Nhưng rồi quê hương cũng bị giặc kéo tới, theo gợi ý của cấp trên, bà đưa các con về lại Sài Gòn để chờ thời cơ tiếp tục hoạt động.

Sau Hiệp ước Sơ Bộ, bà tham gia công tác công khai do Xứ ủy lãnh đạo. Đến năm 1948, bà thoát ly ra khu, gởi các con lại cho bè bạn dưỡng nuôi. Năm 1951 bà vào Đảng Lao Động Việt Nam theo yêu cầu của Đảng. Năm 1954 bà tập kết ra Bắc, thành lập trường nuôi dạy con em cán bộ miền Nam. Bà đã đoàn tụ cùng các con ở miền Bắc và có dịp đi thăm các nước bè bạn trên thế giới. Sau năm 1975, mẹ con bà được đoàn tụ ở miền Nam. Bà nghĩ hưu từ năm 1970 và trở về thành phố Hồ Chí Minh cuối năm 1975. Bà là Ủy viên Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam suốt từ khóa một đến khi mất, đại biểu Quốc hội khóa hai, ba và được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng I, Huân chương chống Pháp hạng I, Huân chương chống Mỹ hạng II.

clip_image037

clip_image039

clip_image041

Bằng Tổ Quốc ghi công của ông Nguyễn An Ninh

clip_image043

Huân chương Độc Lập hạng nhất của bà Sáu

Các con của ông Ninh và bà Sáu

Thứ hai : Nguyễn An Định

Thứ ba : Nguyễn Thị Bình

Thứ tư : Nguyễn An Tịnh

Thứ năm : Nguyễn Thị Minh

Thứ sáu : Nguyễn An Vĩnh.

(Có bài viết riêng về ông Nguyễn An Ninh và bà Trương Thị Sáu ở phần Ngoại phả)

ĐỜI IV

CON ÔNG NGUYỄN AN NINH VÀ BÀ TRƯƠNG THỊ SÁU

NGUYỄN AN ĐỊNH

1926

1. NGUYỄN THỊ VÂN

2. CHU THỊ SANG

3. NGUYỄN THỊ TỰ

Ông Nguyễn An Định là con thứ hai của ông Nguyễn An Ninh và bà Trương Thị Sáu. Ông sanh tháng 4 năm 1926 (Bính Dần).

Thuở nhỏ theo học ở trường Collège Mỹ Tho (thời kỳ ông Ninh bị đày biệt xứ) vì gạch bỏ chữ maréchal Pétain viết lại là maréchal ferrant (người đóng móng ngựa) nên bị đuổi học, được ông Huỳnh Cẩm Chương đem về cho học trường tư từ năm 1944. Ông Định giúp mẹ theo quản lý gánh hát và hoạt động Cách mạng nơi Hội Truyền bá Quốc ngữ. Năm 1946, ông Định thoát ly ra Khu về Trung đoàn 99 Bến Tre, Trung đoàn trưởng là Đồng Văn Cống, Chính trị viên là Võ Văn Thời (cha ông Thời là bạn cũ của ông Ninh, quê ở Quán Tre – Hóc Môn). Năm 1950 ông về Khu 9 công tác ở Đảng vụ Trung ương cục Miền Nam. Ở đó ông làm công tác văn hóa, văn nghệ và trình bày báo. Trước ngày thi hành Hiệp định Genève, ông được rút về để lập Đoàn Văn nghệ Nam Bộ, có viết và công diễn vở kịch “ Ánh Ngọc sáng trong rừng thiêng” rồi đi tập kết.

Thời gian ở khu 9, ông bị bệnh gai xương sống, nằm Quân y viện. Lúc đó, ông được bà Sáu Ngài, Bí thư Tỉnh ủy Sa Đéc, gả bà Vân (là con nuôi thứ 6) cho. Ông được bà Vân tận tình chăm sóc nên bệnh dần khỏi. Hai người có 2 con gái. Ông tập kết ra miền Bắc, bà Vân ở lại, đến năm 1959 thì lấy chồng khác.

Ông công tác ở miền Bắc, năm 1969 nghe tin bà Vân lấy chồng, ông xây dựng gia đình với bà Chu Thị Sang, con gái ông Chu Hữu Thục là Chủ tịch Mặt trận Liên Việt huyện Đông Anh. Ông Thục thuộc tầng lớp địa chủ, trước có theo phong trào của Phan Bội Châu. Ông Định và bà Sang có 2 con trai, rồi ly hôn sau năm 1985.

Tập kết, ông công tác ở Bộ Văn hóa và được cữ sang Trung Quốc học. Sau khi tốt nghiệp đại học về Mỹ thuật Sân khấu ở Trung Quốc rồi về xưỡng mỹ thuật Sân khấu Trung ương và Đoàn xiếc Trung ương. Năm 1982 ông chuyển về Long An tập trung một số nghệ sĩ thành lập Đoàn xiếc Long An. Do cơ chế lúc đó chưa thoáng, việc quản lý tài chính không theo quy định, về trách nhiệm ông bị phê phán nên xin trở về văn phòng Bộ Văn hóa. Cuối năm 1983 ông được chuyển về Hội Văn

học nghệ thuật tỉnh Long An, làm giảng viên, viết báo, kịch, truyện ngắn. Đến năm 1987 ông nghỉ hưu.

Năm 1995, ông kết hôn lần 3 với bà Nguyễn Thị Tự ở Bà Điểm, sanh năm 1932 Nhâm Thân. Bà Tự là con gái của bà Tư Giã, một chiến sĩ Cách mạng thời 1930. Hai người không có con chung. Bà Tự có 6 con riêng, đều có gia đình nên sống riêng, chỉ có một người sống chung với cha mẹ tại số 40/10 ấp Hậu Lân, xã Bà Điểm – Hóc Môn. Ông Định làm nghề Đông y, có bài thuốc gia truyền Địa Long nổi tiếng.

Con ông Định và bà Vân:

- Nguyễn Thị Hồng Nga, sanh năm 1952, chết lúc 6 tuổi

- Nguyễn Thị Hồng Hoa, sanh năm 1954

Con ông Định và bà Sang:

- Nguyễn An Vinh, sanh năm 1973

- Nguyễn An Vịnh, sanh năm 1978.

clip_image002[1]

NGUYỄN THỊ BÌNH

(NGUYỄN THỊ THÁI BÌNH)

(1928 – 2013)

Giỗ ngày 24 tháng 02 âm lịch

TRƯƠNG CÔNG TÍN

1931

Bà Nguyễn Thị Bình là con thứ ba của ông Nguyễn An Ninh và bà Trương Thị Sáu, sanh tháng 11 năm 1928 Mậu Thìn. Tên ông nội đặt cho là Nguyễn Thị Thái Bình.

Thuở nhỏ học trường Áo Tím (nay là trường Nguyễn Thị Minh Khai), đỗ bằng Thành chung (Diplôme).

Năm 1945, bà Bình tham gia cách mạng. Năm 1948 theo gợi ý của tổ chức Cách mạng, Bà Bình xuất dương du học tự túc ở Pháp bằng con đường hợp pháp. Ở Pháp bà công tác trong giới Việt kiều và thành hôn với ông Trương Công Tín (em Giáo sư Trương Công Trung, người gốc ở Gò Công) sanh năm 1931 (Tân Mùi), Kỹ sư Nông học. Ông về nước năm 1959, ông đi B năm 1973, năm 1975 ông tiếp quản và làm Viện trưởng Viện Khoa học Nông nghiệp Miền Nam, được phong hàm Giáo sư. Hiện ông nghĩ hưu và là Chuyên viên của Viện Khoa học Nông nghiệp Miền Nam.

Năm 1956, bà trở về miền Bắc Việt Nam, công tác ở khu gang thép Thái Nguyên, học tiếp lấy bằng Kỹ sư cơ khí và công tác tại Nhà máy cơ khí Hà Nội.

Sau năm 1970, bà chuyển công tác về Ban Quan hệ Quốc tế của Trung ương Hội Phụ nữ Việt Nam, và sau năm 1975 công tác ở bộ phận quan hệ quốc tế của Hội Phụ nữ Giải phóng Miền Nam, rồi Trưởng phòng phát minh sáng chế thuộc Ủy Ban Khoa học Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh. Bà nghĩ hưu trước năm 1980 và là người chấp bút ghi hồi ký của mẹ Trương Thị Sáu vào năm 1975.

Các con bà Bình và ông Tín:

- Trương Công Dân, sinh năm 1956 đã có vợ và 2 con, đang sống với cha mẹ

- Trương Diệu An, sinh năm 1957 đã có chồng và 2 con, đang sống ở Tiệp Khắc

- Trương Thanh Phương, sinh năm 1964 đã có chồng và 2 con, đang sống tại thành phố Hồ Chí Minh.

Hiện nay gia đình bà Bình đang cư ngụ ở số 298A đường Huỳnh Văn Bánh, quận Phú Nhuận. Bà Bình mất ngày 04 tháng 4 năm 2013 nhằm ngày 24 tháng 02 âm lịch năm Quý Tỵ, hỏa táng gửi cốt tại chùa Đại Giác Phú Nhuận.

NGUYỄN AN TỊNH

(1932 – 2012)

Giỗ ngày 08 tháng 7 âm lịch

NGUYỄN THỊ ẤU TÔ

1936

Ông Nguyễn An Tịnh là con thứ tư của ông Nguyễn An Ninh và bà Trương thị Sáu, sanh tháng 12 năm 1932 Nhâm Thân.

Ông Tịnh học đến năm thứ 3 Trung học Pétrus Ký. Ông là một trong những người lãnh đạo phong trào học sinh chống chủ trương Nam Kỳ tự trị của Pháp. Sau vụ Trần Văn Ơn, ông Tịnh thoát ly ra khu 8, phục vụ ở phòng Vô tuyến điện Xứ ủy Nam Bộ. Năm 1952 ông ra miền Bắc và được đi học về vô tuyến điện ở Trung Quốc, lấy bằng Kỹ sư Vô tuyến điện. Năm 1957 trở về làm chuyên gia cho Đài Phát thanh Lào. Sau đó chuyển về Đài phát thanh Tiếng Nói Việt Nam.

Năm 1958, ở Hà Nội ông lấy vợ là Nguyễn Thị Ấu Tô, kỹ sư điện. Bà Tô sanh năm 1936, là con của một địa chủ kháng chiến ở Nghệ An, công tác ở Tổng Công ty Điện lực, hiện nay định cư ở Úc cùng con gái duy nhất

Năm 1972 ông Tịnh công tác ở Đài Truyền hình Trung ương, năm 1975 chuyển về Nam góp phần xây dựng Đài Phát thanh và Truyền hình Long An, làm Giám đốc mấy năm rồi nghĩ hưu.

Con gái là Nguyễn Thị An Thanh, sanh năm 1960, đỗ bác sĩ đi tu nghiệp ở Úc, rồi lấy chồng định cư luôn ở bên ấy. Ông Tịnh cũng sang Úc ở với vợ và con .

Ông mất ngày 24 tháng 8 năm 2012 nhằm ngày mùng 8 tháng 7 âm lịch năm Nhâm Thìn. Mộ chôn tại Sydney Australia.

NGUYỄN THỊ MINH

(NGUYỄN THỊ NGUYỆT MINH)

1935

NGUYỄN SƠN

1930

Bà Nguyễn Thị Minh là con gái thứ năm của ông Nguyễn An Ninh và bà Trương Thị Sáu, sanh tháng 7 năm 1935 Ất Hợi .

Bà học đến năm thứ 2 trường Trung học Áo Tím – Gia Long (nay là trường Nguyễn Thị Minh Khai). Sau khi tham gia đám tang Trần Văn Ơn, bà đã cùng 6 nam nữ sinh do Ngô Hồng Hạnh (em gái Ngô Hồng Giỏi) dẫn đầu thoát ly ra khu. Bà Minh công tác tại văn phòng Đảng vụ Trung ương Cục, sau chuyển sang văn phòng Hội Liên Hiệp Phụ Nữ Nam Bộ.

Năm 1954, bà tập kết ra Bắc, được đi học văn hóa, tốt nghiệp Trung cấp Cơ khí và Trung cấp Vô tuyến điện. Lúc đầu công tác tại Nhà máy Cơ khí Hà Nội, sau chuyển về công tác ở Đài Phát thanh Tiếng Nói Việt Nam và Đài Pathét Lào. Bà kết hôn với ông Nguyễn Sơn, sanh năm 1930, gốc người ở Bình Thuận cũng là người tập kết.

Năm 1973, bà Minh đi B, vượt Trường Sơn trở về Nam, công tác ở Đài Phát thanh Giải phóng. Sau 1975 về Đài Truyền hình TP. Hồ Chí Minh. Đến năm 1980 chuyển qua Sở Công nghiệp làm Giám đốc Xí nghiệp May Sài Gòn 2(cũ). Năm 1985 chuyển làm Giám đốc Công ty Phát hành sách quận 1. Năm 1990 nghỉ hưu.

Ông Nguyễn Sơn sau 1975 mới chuyển về thành phố, công tác ở Ban Tư tưởng – Văn hóa Thành ủy. Ông nghỉ hưu năm 1998 với chức vụ là Phó ban Tư tưởng Văn hóa Thành ủy.

Các con bà Minh và ông Sơn :

- Nguyễn Sơn Thảo, sanh năm 1961, Kỷ sư cơ khí

- Nguyễn Sơn Thủy, sanh năm 1975, bị bệnh do di chứng của chất độc hóa học.

Hiện gia đình ngụ tại số 357A/24A, đường Nguyễn Trọng Tuyển, quậnTân Bình, TP. Hồ Chí Minh

NGUYỄN AN VĨNH

1938

MÃ THỊ DUNG

1955

Ông Nguyễn An Vĩnh là con trai thứ 6 của ông Nguyễn An Ninh và bà Trương Thị Sáu, sanh tháng 01 năm 1937 Đinh Sửu. Ông vừa học hết tiểu học chuẩn bị vào trường Pétrus Ký thì phải cùng chị Minh thoát ly ra khu. Ở khu được tiếp tục đi học trường trung học Nguyễn Văn Tố, rồi ra công tác ở Phòng Quân giới Nam Bộ. Năm 1954, ông Vĩnh tập kết ra Bắc và công tác ở Cục điện lực, được đi học ở Đông Đức 17 năm lấy bằng Tiến sĩ Quang học và Cơ khí chính xác. Năm 1973 trở về miền Bắc làm giáo sư Đại học. Năm 1975 chuyển về TP Hồ Chí Minh làm Trưởng bộ môn Cơ khí chính xác trường Đại học Bách khoa. Năm 1976 thành hôn với Mã Thị Dung, sanh năm 1955, người gốc Hoa, bà Dung tốt nghiệp Đại học Hóa Thực phẩm.

Các con ông Vĩnh và bà Dung:

- Nguyễn An Thịnh, sanh năm 1977

- Nguyễn An Phú, sanh năm 1989

Hiện gia đình đang cư ngụ tại nhà thờ gia tộc số 133 đường Nguyễn Văn Trổi, quận Phú Nhuận, thành phố Hồ Chí Minh

clip_image044

CHI ÔNG

NGUYỄN AN CƯ


ĐỜI III

CON ÔNG NGUYỄN AN CƯ VÀ BÀ CAO THỊ THÌNH

NGUYỄN THỊ LẠC

1914

1. HỒ VĂN THUỘC

2. NGUYỄN VĂN QUYỀN

Bà Nguyễn Thị Lạc là con thứ ba của ông Nguyễn An Cư, sanh năm Giáp Dần 1914, đã mất.

Bà Lạc thuở nhỏ đi học trường đầm Marie Curie, thuộc lớp phụ nữ tân tiến, đi xe đạp, đánh tennis, mặc đồ giả trai. Bà có viết bài đăng báo Thanh niên Tân Tiến, Kỳ Lân báo của chủ bút Lê Thành Lư, bút hiệu là Hồng Lạc, Thiên Kim.

Người chồng đầu tiên là ông Hồ Văn Thuộc ở Phước Lợi (Gò Đen), con một nhà giàu. Thời trẻ là Công tử Thuộc, sau là ông Hội đồng địa hạt. Nhưng ở được ít lâu hai người thôi nhau. Bà sanh 1 gái đem về Hóc Môn sinh sống, nhưng sau con gái cũng chết nhỏ.

Bà tái giá với ông Nguyễn Văn Quyền (Năm Đô), người ở Phú Xuân , Nhà Bè, sanh ngày 16 tháng 12 năm 1912 (Nhâm Tý), mất ngày 31 tháng 8 năm 1959 (nhằm ngày 28 tháng 7 năm Kỷ Hợi), thọ 47 tuổi, Mộ táng chung với khu mộ ông Cư ở Tân Xuân .

Bà được ông Cư truyền nghề, vợ chồng bà mở tiệm thuốc Bắc ở đường Paul Blanchy (Phú Nhuận). Khi ông Quyền mất năm 1959, bà đưa các con về Hóc Môn ở cho đến nay, Bà Lạc có lúc bán xăng dầu nên gọi là bà Ba Dầu.

Con bà Lạc với ông Thuộc :

Hồ Thị Hối, sanh năm 1931, mất năm 1937. Mộ bia ghi chữ Nho: “Hồ Thị Hối, sinh Phước Lợi thôn, tử Tân Thới Nhì”, táng ở khu mộ của ông Cư.

Con bà Lạc với ông Quyền:

Thứ hai: Nguyễn Văn Nhe, sanh năm 1935, hy sinh năm 1968

Ông tham gia kháng chiến chống Pháp ở chi đội 12. Năm 1954 tập kết ra Bắc. Tháng 7 năm 1962 đi B, tiếp tục chiến đấu. Lấy vợ trong chiến khu là bà Phạm Thúy Hưởng, sanh năm 1944, người quê ở Tân An. Có 1 con trai.

Ông Nhe hy sinh ở Bình Mỹ trong chiến dịch Mậu Thân 2, được Nhà nước công nhận Liệt sĩ. Bà Hưởng công tác ở Công ty Bách hóa quận 6, đã nghỉ hưu, hiện còn sống.

Con trai là Nguyễn Hoàng Long, sanh năm 1964, đã có vợ con, ở với mẹ tại quận 6, thành phố Hồ Chí Minh.

Thứ ba: Nguyễn Thị Tài, sanh năm 1938. Chồng là ông Nguyễn Châu Mật, sanh năm 1928, quê ở Mỹ Tho. Hiện nuôi dưỡng mẹ Nguyễn Thị Lạc với nghề buôn bán ở đường Lê Lợi, Thị trấn Hóc Môn.

Các con của bà Tài và ông Mật

1 -Nguyễn Văn Trung, sanh năm 1959

2- Nguyễn Thị Hoài Mỹ, sanh năm 1961 chết lúc 14 tuổi

3- Nguyễn Thị Hoài Dung, sanh năm 1962

4- Nguyễn Thị Phương Lan (Hạnh), sanh năm 1965

5- Nguyễn Thị Anh Hồng , sanh năm 1969

6- Nguyễn Thị Anh Tuyết, sanh năm 1969

7-Nguyễn Thị Bạch Yến, sanh năm 1972

Thứ tư: Nguyễn Thị Hoa, sanh năm 1943, học lực Tú tài II. Chồng là ông Trương Văn Chánh, sanh năm 1940. Trước ở Lái Thiêu, sau 1975 mới về Tân Xuân, nơi phần đất xưa ông Nguyễn An Cư mua để làm khu thổ mộ. Hiện gia đình bà Hoa lo việc thờ cúng ông bà, chăm sóc khu mộ và tiếp tục tổ nghiệp Đông y.

Các con bà Hoa và ông Chánh:

1- Trương Thiên Hương, sanh năm 1965.

2- Trương Thiên Giang, sanh năm 1967, mất năm 1992

3- Trương Thiên Thanh, sanh năm 1968.

4- Trương Thượng Minh, sanh năm 1970, Kỹ sư điện công tác ở quận 12.

5- Trương Thượng Khánh, sanh năm 1972, Kỹ sư viễn thông, làm việc ở Bưu điện thành phố Hồ Chí Minh.

6- Trương Thiên Khanh, sanh năm 1975, Cử nhân Hóa, giáo viên trường Trung học cơ sở Xuân Thới Thượng.

7- Trương Thượng Phước, sanh năm 1977, sinh viên Đại học Bách Khoa

HỌ TRƯƠNG

Ở PHƯỚC LẠI – CẦN GIUỘC

(TRƯƠNG THỊ SÁU)


VỀ HỌ TRƯƠNG Ở PHƯỚC LẠI

Ông họ Trương là Trương Điều, thân phụ của các ông bà Thị Thu, Văn Thập, Thị Bá, Văn Điền và bà Thị Sa nguyên là người Hoa gốc Phúc Kiến, thuộc tầng lớp nghèo, đã có vợ con ở Trung Quốc. Họ Trương tham gia tổ chức Thái Bình Thiên Quốc, bị tru di tam tộc, trốn lên núi sống nghèo khổ. Nhân thời bấy giờ thuyền buôn Trung Quốc tới lui Nam Kỳ kinh doanh thương mại. Ông một mình sang Việt Nam lúc tuổi trung niên, để lại Trung Quốc vợ và một con. Đầu tiên ông dừng lại ở chợ Cần Giuộc làm nghề buôn bán vải dạo, tích lũy dần dần mà có của ăn của để.

Nhờ tính cần cù, chịu thương chịu khó nên được ông Ngô Văn Xứng, người làng Phước Lại (tổng Phước Điền Hạ, phủ Phước Lộc) gả con gái lớn là Ngô Thị Điểm cho. Từ đó, ông thuê nhà mở tiệm buôn vải ở chợ Cần Giuộc và 5 người con lần lượt ra đời.

Tuy đã có gia đình ở Việt Nam, nhưng ông vẫn thường xuyên gởi tiền bạc về giúp vợ con ở Trung Quốc.

Một lần bà vợ lớn người Hoa dắt con ở Trung Quốc là Trương Khịt theo Trương Oánh (em ông Trương) qua Việt Nam thăm ông. Sau đó bà trở về Trung Quốc lại dắt theo 1 người con của bà vợ Việt Nam. Còn ông Trương Khịt thì ở lại lấy vợ Việt là bà Nguyễn Thị Chi, người ở Phước Lâm, sanh 1 con là Trương Văn Khải. Sau khi có con, ông Khịt bỏ về Trung Quốc, không rõ mất năm nào.

Các con của ông Trương Điều với bà Ngô Thị Điểm:

Thứ hai : Trương Thị Thu

Thứ ba : Trương Văn Thập

Thứ tư : Trương Thị Bá, chết nhỏ.

Thứ năm : Trương Văn Điền, theo bà mẹ lớn đi Trung Quốc

không thấy trở về.

Thứ sáu : Trương Thị Sa, vợ của Nguyễn An Ninh

VỀ TÊN VÀ NĂM SANH NĂM MẤT CỦA ÔNG BÀ

Hiện nay có sai lệch giữa mộ bia và truyền miệng về năm mất

+ Đã từ lâu, các con của bà Sáu (Trương Thị Sa) vẫn đinh ninh rằng:

Thân phụ của bà Sa có tên là Trương Điều, mất năm 1899 (Kỷ Hợi) tức năm bà Sa vừa mới ra đời.

Thân mẫu là Ngô Thị Ba, mất năm bà Sa 21 tuổi (tức khoảng năm 1920 - 1921).

+ Mới đây, Nhóm Nghiên cứu và Thực hành Gia phả TP Hồ Chí Minh trong khảo sát đã ghi được ở mộ bia những chữ Hán sau:

Mộ ông ghi:

Đại Nam, Hiển khảo tính Trương tự Điền đệ nhất hàng chi mộ

Nguyên sinh Quý Hợi niên cát nhật,

Tốt tử Quý Sửu niên cát nhật

Dịch nghĩa:

Nước Đại Nam, mộ người con trưởng là ông Trương Điền

Nguyên sinh ngày tốt năm Quý Hợi (1863)

Mất ngày tốt năm Quý Sửu (1913)

Theo bà Năm Minh, mộ bia đã sai tên, năm sinh, năm mất

Mộ bà ghi:

Đại Nam, Hiển tỷ tính Ngô húy Điểm, đệ nhất hàng, ngũ thập tứ

Tuế

Lộc phủ, Phước Điền Hạ tổng, Phước Lại thôn

Tốt ư Tân Dậu niên, bát nguyệt thập tam nhật

Dịch nghĩa:

Nước Đại Nam, người con trưởng là Ngô Thị Điểm, 54 tuổi

Thôn Phước Lại, tổng Phước Điền Hạ, phủ Phước Lộc

Mất ngày 13 tháng 8 năm Tân Dậu (1921)

Hai mộ táng cách nhau khá xa nhưng được làm cùng kiểu với đá xanh, trường trụ thường thấy. Mộ bia cũng cùng kiểu theo phong cách Việt Nam, không mang sắc thái Trung Quốc. Hai người con lập mộ bia làVăn Thập và Thị ? không đọc rõ, chắc là Thị Sa vì bà Sa chịu chi phí lập mộ bia cho cha mẹ. Hai ngôi mộ này cùng mộ Trương Thị Thu và Trương Văn Thập đã được các cháu cải táng gữi tro tại chùa Giác Lâm Tân Bình.

Giải thích theo mộ bia thì:

Ông là người Trung Quốc, sanh năm Quý Hợi tức 1863, mất năm Quý Sửu tức 1913, thọ 50 tuổi. Người con út Trương Thị Sa phải ở tuổi 14 (1913 – 1899 = 14).

Bà là Ngô Thị Điểm, không ghi năm sanh nhưng ghi mất lúc 54 tuổi tức Tân Dậu 1921. Như vậy năm sanh là (1921- 54 = 1867) Đinh Mão 1867. Bà nhỏ hơn ông 4 tuổi và mất sau ông 8 năm, lúc bà Sa được 22 tuổi. Ngày mất của bà là 13 tháng 8 âm lịch.

Chữ “đệ nhất hàng” có nghĩa nói bà là con trưởng (tuy bà thứ ba nhưng người thừ hai đã chết nhỏ)

Như vậy theo sự truyền miệng từ bà Sáu Sa cho các con thì ông là Trương Điều (không phải là Trương Điền vì đã có con tên là Điền).

Các người con bà Sáu Sa hiểu theo truyền miệng, vì không ai đọc bia mộ. Do dựa vào truyền miệng, các con bà Sáu Sa vẫn tin điều mình biết là đúng và cho là bia mộ sai. Lý do sai là : người lập mộ là bà Sáu Sa, bà ra kiểu xây mộ và khắc bia, người anh trai là ông Thập nhận tiền và đứng ra trông coi xây cất. Chữ Điều thành ra chữ Điền vì có thể ông Thập viết chữ quốc ngữ chữ (u) mà người thợ khắc đọc thành chữ (n) nên Điều hóa ra Điền (?). Năm mất không rõ nguyên nhân sai, nhưng đúng như bia khắc thì bà Sa lúc cha mất đã 14 tuổi phải biết rõ cha. Ý kiến bà Sa khi lớn lên chỉ biết có mẹ, và mẹ kể lại cha mất khi mẹ mới sanh Sáu Sa, chính mẹ lo chôn cất cha xong thì bị hậu sản. Do nhà nghèo nên khi ông Điều mất, bà Điểm cũng không có tiền lập bia mộ cho ông. Khi bà Điểm sắp mất có dặn lại các con khi có tiền lập mộ bia thì khắc tên cha là Trương Điều.

Còn tên bà Điểm thì không ai biết, kể cả các con vì từ nhỏ ông ngoại cũng gọi là con Ba, anh chị em đều gọi là chị Ba, lấy thứ làm tên. Khi làm mộ bia, ông Thập hỏi ông Lương mới biết tên thật, nhưng không ai nhớ chỉ nhớ là Ba. Ngay như bà Sa tên như vậy, nhưng mọi người đều gọi là Sáu. Sau này cũng lấy luôn tên Sáu khắc trên bia mộ. Do đó bà Ba hay bà Điểm cũng là một chứ không phải lầm người khác.

Tuy họ Trương phát tích không bao lâu ở Việt Nam, nhưng đời II đã sinh ra một Trương Thị Sa suốt đời cống hiến cho sự nghiệp Cách mạng. Đời III có Trương Văn Bang, Trương Văn Khải là những cán bộ đảng viên cao cấp đã có nhiều đóng góp to lớn cho Cách mạng. Lớp con cháu sau này đều có vị trí xứng đáng trong xã hội.

Thời gian học tập ở Trung Quốc, Nguyễn An Tịnh và Nguyễn An Định có nhờ người truy tìm ông Trương Điền và gốc gác họ Trương ở Phúc Kiến nhưng không kết quả. Năm 1970 bà Nguyễn An Ninh có ghé Bắc Kinh mấy ngày nhờ Đài Phát thanh Bắc Kinh nhắn tin cũng không có kết quả.

LƯỢC PHẢ HỌ NGÔ Ở PHƯỚC LẠI

Xã Phước Lại là quê ngoại hay nói đúng hơn là quê bà ngoại. Nơi đây họ Ngô sinh cơ lập nghiệp và có mồ mả ông bà. Sau Cách mạng Tháng Tám, bà Trương Thị Sáu đã dắt con chạy tản cư về đây. Xin có đôi điều về họ Ngô.

Ông bà Cao tổ, người đầu tiên khai cơ lập nghiệp ở đây là:

I. Ngô Ngọc Chơn và Nguyễn Thị Chọn.

Mộ bia bị dân đập phá vì sát hại nghĩa quân.

Ông bà sanh các con:

Thứ hai : Ngô Ngọc Thoại

Thứ ba : Ngô Ngọc xứng

Thứ sáu : Chưa biết tên

Thứ tám : Ngô Thị Thới

Ngày nay con cháu còn đông đảo ở đây.

II. Ngô Ngọc Xứng và Nguyễn Thị Ngài.

Ông thứ ba Ngô Ngọc Xứng, mất ngày 12 tháng 5 nhuần năm Giáp Dần (1914), thọ 76 tuổi, tức ông sanh năm 1838. Bà Nguyễn Thị Ngài, mất ngày 7 tháng 8 năm Giáp Dần (1914), sau ông 4 tháng, thọ 67 tuổi, tức sinh năm 1847.

Các con của ông Xứng và bà Ngài:

Thứ hai : Vô danh, chết nhỏ.

Thứ ba : Ngô Thị Điểm (1867-1921) gả cho ông Trương Điều có 5 người con

Thứ tư : Ngô Ngọc Thạch(1870-1916) Vợ là Trần Thị Lang

Thứ năm : Ngô Thị Sổ, gả cho ông Huyện…? ở bến đò Tân Thanh, có 13 người con

Thứ sáu : Ngô Thị Long, chết lúc 21 tuổi ,chưa chồng.

Thứ bảy : Ngô Ngọc Lương (1879 – 1945). Vợ là Nguyễn Thị Thường (1880 – 1946), có 4 người con.

Thứ tám : Ngô Thị Phi, lấy chồng ở Trường Bình, có 4 người con.

Thứ chín : Ngô Thị Biết, chồng là Trần Văn Quy, người Hoa, ở Xóm Củi, có 5 người con.

III. Ông Ngô Ngọc Lương và bà Nguyễn Thị Thường, quê ở Long Thượng . có 4 người con

Thứ hai : Ngô Ngọc Đống, sanh 1898 (Mậu Tuất), mất năm 1943 (quý Mùi)

Thứ ba : Ngô Thị Ngàn

Thứ tư : Ngô Thị Muôn

Thứ năm : Ngô Ngọc Hảo ( 1902 – 1966)

IV. Ông Ngô Ngọc Đống và bà Trần Thị Thương (1896 – 1974). Sanh các con là anh em ông Ngô Kỳ Khiêm, hiện con cháu sinh sống tại xã Phước Lại nơi có mồ mả ông bà.

Ông Ngô Ngọc Hảo và bà Nguyễn Thị Trị (1907), người ở Long Đước (nay là Long Hậu), hiện còn sống. Bà Trị là chị ruột của Nguyễn Thị Một, vợ ông Trương Văn Bang.

Ông Hảo thuở nhỏ được ông Thạch (bác ruột) nuôi làm con nuôi, kêu ông Thạch bằng Tía, kêu ông bà Lương bằng chú thiếm.

clip_image002[2]

PHẢ HỆ

ĐỜI I

TRƯƠNG ĐIỀU

(1853 – 1899)

NGÔ THỊ ĐIỂM

(1867 – 1921)

Giỗ ngày 13 tháng 8 âm lịch

clip_image046

Ông Tổ phụ Trương Điều, sanh năm Quý Sửu (1853), mất năm Kỷ Hợi (1899), không biết ngày giỗ. Khi mất vợ là bà Điểm lo chôn cất. Mộ trên một gò đất cạnh đường làng, cách khu mộ dòng họ Ngô một thửa ruộng. Vì khác họ, là con rể nên không được nằm trong khu mộ.

Bà vợ lớn người Hoa không rõ tên (ở bên Tàu)

Bà vợ Việt là Ngô Thị Điểm, sanh năm Đinh Mão (1867), mất ngày 13 tháng 8 âm lịch năm Tân Dậu (1921). Mộ bà ở ấp Phước Thới A, xã Phước Lại, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An, do con gái út là Sáu Sa chôn cất, cách xa mộ ông mấy thửa ruộng. Sau được hỏa táng hài cốt gữi tro tại chùa Giác Lâm, Tân Bình.

Các con của ông Trương Điều:

- Với bà người Hoa:

Ông Trương Khịt, không biết năm sanh, năm mất.

- Với bà người Việt: Ngô Thị Điểm:

Thứ hai : Trương Thị Thu

Thứ ba : Trương Văn Thập

Thứ tư : Trương Thị Bá, chết nhỏ

Thứ năm : Trương Văn Điền, đi qua Trung Quốc từ nhỏ, do bà vợ lớn người Hoa xin

Thứ sáu : Trương Thị Sa

clip_image048

MỘ ÔNG TRƯƠNG ĐIỂU Ở XÃ PHƯỚC LẠI
ĐỜI II

CÁC CON ÔNG TRƯƠNG ĐIỀU

TRƯƠNG KHỊT

NGUYỄN THỊ CHI

Ông Trương Khịt là con ông Trương Điều với bà vợ lớn ở Trung Quốc, không rõ năm sanh, năm mất. Một lần ông theo mẹ từ Trung Quốc sang Việt Nam thăm cha là ông Trương Điều, rồi ở lại Việt Nam lấy vợ là bà Nguyễn Thị Chi, người ở làng Phước Lâm, sanh một con là Trương Văn Khải. Sau khi có con, ông Khịt bỏ về Trung Quốc rồi ở luôn bên ấy, không rõ mất năm nào.

Bà Chi sau đó có chồng khác và bà mất lúc 82 tuổi, mộ táng ở Phước Lâm

TRƯƠNG THỊ THU

Giỗ ngày 18 tháng 01 âm lịch

PHẠM VĂN MÃNG

clip_image050

Mộ Bà Trương Thị Thu Ở Phước Lại

Bà Trương Thị Thu là con ông Trương Điều và bà Ngô Thị Điểm, Giỗ ngày 18 tháng 01 âm lịch, mộ ở Phước Lại, sau cải táng tro cốt bà được gữi tại chùa Giác Lâm, Tân Bình

Chồng là ông Phạm Văn Mãng, quê ở Hưng Long, mộ ở nghĩa địa Phú Thọ Hòa nhưng khi giải tỏa bị thất lạc.

Các con bà Thu:

Phạm Văn Mùa

Phạm Văn Xưa, chết nhỏ

TRƯƠNG VĂN THẬP

(1884 – 1929)

Giỗ ngày 25 tháng 01 âm lịch

VƯƠNG THỊ ĐIỂN

(1883 – 1945)

Giỗ ngày 03 tháng 5 âm lịch

clip_image052

Mộ Ông Trương Văn Thập

Trương Văn Thập là con ông Trương Điều và bà Ngô Thị Điểm sanh năm Giáp Thân (1884), mất ở quê nhà ngày 06 tháng 3 năm 1929 (nhằm ngày 25 tháng giêng năm Kỷ Tỵ), hưởng dương 46 tuổi (theo mộ bia ở Phước Lại do cháu nội lập).

Vợ ông là Vương Thị Điển sanh năm 1883 mất năm 1945. Sau khi ông Thập mất, bà bỏ quê dắt các con lên Sài Gòn sống với bà Sa, rồi về sống với cha mẹ ruột. Sau năm 1940, khi con gái út lấy chồng, làm ăn khá, bà cùng 2 con gái thứ tám và thứ chín lên Sài Gòn mở tiệm may Mỹ Hiệp trên đường Amiral Rose (nay là đường Trương Định) đối diện với chùa Bà Đen. Năm 1945, tiệm may bị máy bay đồng minh bỏ bom Nhật Bản rơi trúng chết cả nhà gồm bà Điển , Thị Tám và vị hôn phu, Thị Mười cùng chồng và 2 con nhỏ, bốn thợ may đều chết. Thi hài an táng ở nghĩa địa Chí Hòa, nay tất cả đều thất lạc.

Các con ông Thập và bà Điển:

Thứ hai : Trương Văn Rạng, sanh năm 1908, chết lúc 4 tuổi.

Thứ ba : Trương Văn Bang

Thứ tư ;. Trương Thị Be

Thứ năm : Trương Văn Dĩ, sanh năm 1914, chết lúc 14 tuổi

Thứ sáu : chết nhỏ

Thứ bảy : chết nhỏ.

Thứ tám : Trương Thị Tám, sanh năm 1920, chết năm 1945 do bị thả bom, chưa chồng, cùng ngày với em Mười và mẹ.

Thứ chín : Trương Thị Mười ( vì bà cô Biết thứ chín thường gọi là bà Chín nên tên gọi tránh sang Mười), sanh năm 1922, chết lúc 12 giờ trưa ngày 12.6.1945 nhằm ngày mùng 3 tháng 5 ÂL cùng chồng và 2 con do bị máy bay đồng minh bỏ bom trúng.

Hiện nay tro cốt ông Thập được gữi tại chùa Giác Lâm, Tân Bình.

TRƯƠNG THỊ BÁ

(Chết lúc nhỏ)

TRƯƠNG VĂN ĐIỀN

Trương Văn Điền là con ông Trương Điều và bà Ngô Thị Điểm, lúc nhỏ ông theo bà mẹ lớn người Hoa đi Trung Quốc, nhiều lần trốn về Việt Nam, nhưng mẹ lớn khóc lóc năn nĩ nên ở lại và biệt tin luôn.

TRƯƠNG THỊ SA

(1899 - 1983)

NGUYỄN AN NINH

(1900 - 1943)

Trương Thị Sa là con gái út của ông Trương Điều và bà Ngô Thị Điểm , sanh năm 1899, mất năm 1983. Tên thường gọi là Trương Thị Sáu, chồng là Nguyễn An Ninh (1)

Các con:

Nguyễn An Định

Nguyễn Thị Bình

Nguyễn An Tịnh

Nguyễn Thị Minh

Nguyễn An Vĩnh

--------------------

(1) xin xem chi tiết ở phần phả hệ họ Nguyễn, đời III và đời IV đã có bên phả hệ họ Nguyễn.

CHI ÔNG

TRƯƠNG KHỊT


ĐỜI III

CON ÔNG TRƯƠNG KHỊT VÀ BÀ NGUYỄN THỊ CHI

TRƯƠNG VĂN KHẢI

(1911 - 1949)

Giỗ ngày 16 tháng 10 âm lịch

ĐẶNG THỊ MAI

( 1912 – 1992)

Giỗ ngày 7 tháng 5 âm lịch

Ông Trương Văn Khải là con ông Trương Khịt và bà Nguyễn Thị Chi. Ông Khải sanh năm 1911, hy sinh năm 1949, giỗ ngày 16 tháng 10 âm lịch. Thuở nhỏ cha bỏ về Tàu, mẹ giận đi lấy chồng khác, ông Khải được người cô ruột là Trương Thị Sa nuôi nấng và được ông Nguyễn An Ninh dẫn dắt làm cách mạng. Ông Khải kết hôn với bà Đặng Thị Mai, sanh năm 1912, mất năm 1992, giỗ ngày 7 tháng 5 âm lịch.

Ông bà có nhà cửa ở làng Tân Kim, ngoại vi Thị trấn Cần Giuộc. Ông tham gia hoạt động Cách mạng và vào Đảng từ năm 1930. Ông tham gia cướp chính quyền ở Cần Giuộc năm 1945, thoát ly xây dựng đơn vị bộ đội kháng chiến ở vùng Cần Giuộc, Cần Đước, tỉnh Chợ Lớn. Ông được bầu làm Bí thư Quân ủy lâm thời Cần Giuộc, Tỉnh ủy viên Chợ Lớn. Ông hy sinh trong một cuộc chống càn lúc đang giữ chức Tỉnh đội phó Dân quân tỉnh Chợ Lớn. Sau được phong quân hàm Trung tá, mộ cải táng về Nghĩa trang liệt sĩ tỉnh Long An, được công nhận Liệt sĩ theo Quyết định số 1042/TTg, bằng số 1 LC 723b do Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Văn Đồng ký ngày 11- 9–1978.

Được tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng II theo Quyết định số 539/KT-CT, số huy chương số 10 do Chủ tịch nước Trần Đức Lương ký ngày 20-10-1998.

Bà Đặng Thị Mai sau khi chồng hy sinh vẫn ở vậy nuôi con. Tuy nhà cửa ở trong vòng ấp chiến lược bà vẫn nuôi dấu cán bộ,cất giữ tài liệu cách mạng. Có lần bị kẻ phản bội chỉ điểm, bà bị địch tra khảo tàn nhẫn nhưng vẫn giữ vững cơ sở, giấu được tài liệu. Khi mất mộ bà táng ở đồng mả làng Tân Kim.

Các con ông Khải và bà Mai:

Thứ hai : Đặng Thị Biết

Thứ ba : Trương Công Hoàng

Thứ tư : Trương Thị Hồng Ảnh, chết nhỏ.

Thứ năm : Trương Công Đoàn

Thứ sáu : Trương Thị Hồng Hoa

Thứ bảy : Trương Công Long

Thứ tám : Đặng Thị Chín

ĐỜI IV

CON ÔNG TRƯƠNG VĂN KHẢI VÀ BÀ ĐẶNG THỊ MAI

- Đặng Thị Biết là con gái thứ hai của ông Trương Văn Khải và bà Đặng Thị Mai, sanh năm Giáp Tuất (1934). Vì cha đi kháng chiến chống Pháp nên bà khai theo họ mẹ. Chồng là Trần Ai Đông. Bà Biết mất năm……. Có 5 người con.

- Trương Công Hoàng là con trai thứ ba của ông Trương Văn Khải và bà Đặng Thị Mai, sanh năm 1938, mất năm 1999. Vợ là Trương Thị Hoa. Có một người con gái.

- Trương Công Đoàn là con trai thứ năm của ông Trương Văn Khải và bà Đặng Thị Mai, sanh năm 1941. Vợ là Trang Lệ Thủy, ở Thị trấn Cần Giuộc, làm giáo viên.

Ông Năm Đoàn, lúc nhỏ đi học ở Cần Giuộc, rồi lên Sài Gòn học Trung học, đỗ bằng Tú tài. Ông bị động viên nên trốn lính. Sau 1975 ông công tác ở nhiều ban ngành ở huyện Cần Giuộc. Có nhiều thành tích cống hiến, sau đó nghỉ hưu. Có 4 người con.

- Trương Thị Hồng Hoa là con gái thứ sáu của ông Trương Văn Khải và bà Đặng Thị Mai, có chồng là Nguyễn Văn Đãi ở Trường Bình.

- Trương Công Long là con trai thứ bảy của ông Trương Văn Khải và bà Đặng Thị Mai, sanh năm 1945, mất 1976. Vợ là Nguyễn Thị Thúy Hồng, Phan Thị Bông . Có 3 người con

- Đặng Thị Chín là con gái thứ tám của ông Trương Văn Khải và bà Đặng Thị Mai, sanh năm 1949. Họ Đặng là do khai theo họ mẹ, vì ông Khải lúc đó đi kháng chiến. Chồng là Nguyễn Văn Yến, nguyên là sĩ quan chế độ cũ đã xuất cảnh đi Mỹ. Có 2 người con

CHI ÔNG

TRƯƠNG VĂN THẬP

ĐỜI III

CON ÔNG TRƯƠNG VĂN THẬP VÀ BÀ VƯƠNG THỊ ĐIỂN

TRƯƠNG VĂN BANG

(1911 – 1981)

Giỗ ngày mùng 6 tháng chạp

NGUYỄN THỊ MỘT

(1919 – 2013)

Giỗ ngày mùng 8 tháng 3 âm lịch

clip_image054Ông Trương Văn Bang, con thứ ba của ông Trương Văn Thập, sanh năm Tân Hợi ( 1911), mất năm 1981

Thuở nhỏ ông tuy ít được học hành nhưng thông minh, tháo vát, được cô là Trương Thị Sa dạy mua bán từ nhỏ, sau theo cô lên Cầu Ông Lãnh Sài Gòn cho tới khi cô về với ông Ninh ở Trung Chánh. Từ đó, ông Bang được ông Ninh tuyên truyền lý tưởng yêu nước. Hàng đêm ông Trương Văn Bang và ông Trương Văn khải thường đi mời những người cốt cán của tổ chức Thanh Niên Cao Vọng đến dự lớp huấn luyện

Di ảnh Ông Trương Văn Bang

của Nguyễn An Ninh. Trong số cốt cán của Nguyễn An Ninh có ông Hồ Văn Long vào An Nam Cộng Sản Đảng từ cuối năm 1929 và là Xứ ủy viên đầu tiên của tổ chức Cộng Sản này.

Từ năm 1924 ( lúc 13 tuổi) Trương Văn Bang và Trương Văn Khải được ông bà Nguyễn An Ninh gữi gắm cho ông Hồ Văn Long là một thầy giáo yêu nước và có kiến thức sâu rộng, là người cốt cán nổi trội của tổ chức Thanh Niên Cao Vọng. Năm 1929 khi Hồ Văn Long là Xứ ủy viên của An Nam Cộng sản Đảng cũng là lúc ông Bang và ông Khải đã đủ tuổi để thoát ly hoạt động. Sau thời gian thử thách, đầu năm 1930 Hồ Văn Long lúc này là Bí thư Tỉnh ủy Chợ Lớn của Đảng Cộng sản Đông Dương, đã kết nạp ông Bang và ông Khải vào Đảng. Ngay năm đó, cả hai được bầu vào Huyện ủy Cần Giuộc, ông Bang là Phó Bí thư. Năm 1931, ông Bang được bổ sung vào Tỉnh ủy Chợ Lớn, trực tiếp làm Bí thư Cần Giuộc. Năm 1932 khi Hồ Văn Long được bầu làm Bí thư Xứ ủy Nam Kỳ, thì ông được bầu là Bí thư Tỉnh ủy Chợ Lớn. Ông đã có công xây dựng phong trào gần như tan rã của tỉnh Chợ Lớn, đặc biệt vùng Cần Giuộc – Cần Đước sau khi Hồ Văn Long bị bắt. Tháng 5 năm 1933 ông được bầu làm Bí thư Xứ ủy, cuối năm thì bị bắt đến năm 1936

khi chánh phủ Mặt trận Bình dân bên Pháp ân xá ông ra tù, phụ trách Xứ ủy thay Trần Văn Giàu. Năm 1937 – 1938 ông sống ở Hóc Môn vừa trị bệnh vừa hoạt động cách mạng, Bí thư Xứ ủy lúc này là Võ Văn Tần. Cuối năm 1939, lúc về liên tỉnh Miền Đông công tác, ông thành hôn với bà Nguyễn Thị Một là một cán bộ đang hoạt động ở Sài Gòn. Năm 1941 bị tên phản bội là Năm thợ bạc khai báo, ông bị bắt lần thứ hai, năm 1943 bị đày đi Bà Rá.

Nhân lúc có sự tranh giành giữa Pháp và Nhật, một số tù Bà Rá đã vượt ngục trốn về, trong đó có ông. Ông về Cần Giuộc chuẩn bị cho Cách mạng Tháng Tám, phụ trách bộ phận vũ trang và là Bí thư Quận ủy, lãnh đạo cướp chính quyền tại quận thành công.

Ngày 23 tháng 9 năm 1945, giặc Pháp từ Sài Gòn đánh ra. Ông Bang được giao phụ trách mặt trận số 4 (phía Nam Sài Gòn) để bao vây địch. Lực lượng này gọi là Bộ đội Cần Giuộc, thường gọi là Bộ đội Ba Bang. Lực lượng Bình Xuyên tạo phản làm tay trong cho Pháp, lại được một số cán bộ hữu khuynh ủng hộ giao vũ khí cho Bình Xuyên, do đó bọn Bình Xuyên đã bao vây bộ đội của Ba Bang để tước vũ khí, chúng nói lấy vũ khí để tăng cường lực lượng chống Pháp, kỳ thật chúng rút lui để bọn Pháp chiếm Cần Giuộc – Bộ đội Ba Bang ra sức chống cự nhưng đạn dược bị lấy hết, buộc lòng phải rút về Rừng Sác. Năm 1948, Nguyễn Bình chỉnh đốn lại lực lượng vũ trang phiên hiệu thành Tiểu đoàn 922, Trung đoàn 308 Nguyễn An Ninh, ông là Tiểu đoàn trưởng, Trung đoàn phó hoạt động trên địa bàn Cần Giuộc, Cần Đước, Rừng Sác, nhiều lần đụng chạm với Bộ đội Bình Xuyên. Sau đó ông được phân công đi học chính trị khóa Trường Chinh I ở Nam Bộ. Năm 1951, Trung ương Cục tổ chức lại 3 quân khu, ông về công tác ở Phân Liên khu miền Đông. Đến năm 1954 đình chiến, ông phụ trách đoàn thương binh Nam Bộ được vận chuyển bằng máy bay tập kết ra Bắc, đem theo 2 con là Bình Tâm và Minh Tâm.

Ông công tác ở Bộ Tổng tham mưu với cấp hàm Trung tá. Do ông bị suyển nặng nên ông được bà Bội Lan tình nguyện sống và chăm sóc cho ông suốt hai mươi năm, nhưng không có con.

Bà Nguyễn Thị Một, vợ ông ở lại miền Nam. Năm 1956 bà bị bắt, bị giam qua nhiều nhà lao và đày ra Côn Đảo. Đến năm 1973 trao trả ở Lộc Ninh rồi được đưa ra Bắc an dưỡng. Tổ chức bố trí cho ông Bang đi chửa bịnh ở Trung Quốc và thuyết phục bà Bội Lan để hai vợ chồng đoàn tụ.

Năm 1976, gia đình ông trở về thành phố Hồ Chí Minh. Ông Bang nghỉ hưu với cấp bậc Thượng tá Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Ông mất vào ngày 31 tháng 12 năm 1981 (nhằm ngày mùng 6 tháng chạp năm Tân Dậu) tại nhà ở đường Nguyễn Trọng Tuyển. Mộ ông ở Nghĩa trang Lạc Cảnh của Thành phố.

Bà Nguyễn Thị Một do những năm tháng bị tù đày, sức khỏe kém. Từ ngày ông Bang mất bà bị kiệt sức, thường xuyên phải nằm viện. Hơn hai mươi năm cuối đời bà đã nằm liệt giường tại bệnh viện Thống nhất. Bà mất ngày 17 tháng 4 năm 2013 nhằm ngày mùng 8 tháng 3 năm Quý Tỵ.

Cả hai ông bà đều được nhà nước tặng Huân chương Hồ Chí Minh do có nhiều cống hiến cho dân cho nước và được an táng tại nghĩa trang Lạc Cảnh ở Thủ Đức.

Các con của ông Bang và bà Một:

- Trương Bình Tâm,

- Trương Thanh Tâm, chết nhỏ.

- Trương Minh Tâm

- Trương Thu Tâm (Trương Ngọc Thủy)

- Trương Hòa Bình

TRƯƠNG THỊ BE

(1912 – 2001)

Giỗ ngày 20 tháng 7 âm lịch

NGHIÊM KHẮC CƠ

( 1911 – 1951 )

Trương Thị Be, con gái thứ tư của ông Trương Văn Thập, sanh năm 1912, vào Đảng năm 1934, tỉnh ủy viên tỉnh Trà Vinh. Năm 1954 với bí danh Tư Trầu ở lại miền Nam hoạt động và bị tù đày. Sau năm 1975 bà sống ở Phú Nhuận với con và mất năm 2001, giỗ ngày 20 tháng 7 âm lịch. Mộ ở nghĩa trang Lạc Cảnh Thủ Đức TP. Hồ Chí Minh.

Chồng là Nghiêm khắc Cơ, sanh năm 1911, mất năm 1951 (bí danh Năm Kỷ), gốc người Bắc, vào Đảng năm 1938. Thời kháng chiến chống Pháp làm công binh xưởng ở Trà Vinh, được Trung ương điều ra Bắc công tác và mất ở miền Bắc ( ở Bắc ông có vợ khác).

Các con của bà Be và ông Cơ

- Nghiêm Quốc Lệ là giáo viên - sanh năm 1940, vợ là Vương Hoài Chi cũng là giáo viên – có hai con

- Nghiêm Quốc Hồng, sanh năm 1944 là Giám đốc Xí nghiệp Hóa màu, sau này sáp nhập vào Công ty cao su Thống Nhất thuộc Sở Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh, nghỉ hưu năm 2004. Vợ là Lê Thị Yến Thanh, Giám đốc Công ty sơn Bạch Tuyết thuộc Sở Công nghiệp, hiện cư trú tại 43L Hồ Văn Huê, Phú Nhuận. Có hai con.

ĐỜI IV

CON ÔNG TRƯƠNG VĂN BANG VÀ BÀ NGUYỄN THỊ MỘT

1- Ông Trương Bình Tâm là con trai thứ hai của ông Trương Văn Bang và bà Nguyễn Thị Một, sanh năm 1941 nguyên Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu, có hai đời vợ, vợ trước tên Lê Hồng Cẩm có 2 con, vợ sau tên Dương Thị Dung có 1 con.

2- Trương Thanh Tâm là con thứ ba của ông Trương Văn Bang và bà Nguyễn Thị Một, chết nhỏ

3- Ông Trương Minh Tâm là con trai thứ tư của ông Trương Văn Bang và bà Nguyễn Thị Một, sanh năm 1945 mất năm 2002, làm ở Công ty đầu tư xây dựng Tân thuận, Quận 7, vợ tên Võ Thị Thiện, là giám đốc Công ty thương mại dịch vụ Quận 7, có 2 con. Ông Minh Tâm mất năm 2002, giỗ ngày 09 tháng 9 âm lịch.

4- Bà Trương Thu Tâm (Trương Ngọc Thủy) là con gái thứ năm của ông Trương Văn Bang và bà Nguyễn Thị Một, sanh năm 1952 nguyên là Giám đốc Sở Du lịch, rồi Giám đốc Sở Văn hóa Thông tin thành phố Hồ Chí Minh, chồng là Trần Tiến Định, hưu trí , có 2 con.

5- Ông Trương Hòa Bình là con trai út của ông Trương Văn Bang và bà Nguyễn Thị Một, sanh năm 1954 hiện là Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao, Đại biểu Quốc hội, vợ là Nguyễn Minh Phương trước làm ở Xí nghiệp dược 24 ở Ngô Thời Nhiệm, Quận 3. Có 2 con.

clip_image055

clip_image057

NGOẠI PHẢ

NGUYỄN AN KHƯƠNG

NGUYỄN AN NINH

TRƯƠNG THỊ SÁU

NGUYỄN AN KHƯƠNG

clip_image059

Di ảnh Ông Nguyễn An Khương

Ông Nguyễn An Khương sinh năm 1860 tại thôn Phước Quảng, quận Cần Giuộc, tỉnh Chợ Lớn ( ngày nay thuộc tỉnh Long An ).

Cha là Nguyễn An Nghi là người có tâm và yêu nước nhưng bị thất bại. Tổ tiên gốc ở Hưng Yên, họ Đoàn, do chống lại chúa Trịnh nên phải trốn chúa Trịnh vào định cư ở Bình Định và đổi thành họ Nguyễn. Ông Nghi lưu tán vào Nam, lấy vợ là bà Dương Thị Tiền, quê ở Phước Quảng và sinh cơ lập nghiệp tại đây.

Từ thuở nhỏ, nhờ sống trong gia đình có học và gia giáo lại giỏi nghề làm thuốc nên ông Khương sớm tinh thông Y học, Hán văn và chữ Quốc ngữ. Ông mở trường dạy học cho trẻ em tại thị xã Tân An. Kiến thức và đạo đức của ông khiến cha mẹ học trò kính trọng, trong đó có ông Hội đồng Trương Dương Lợi và được ông gả con gái thứ bảy là Trương Thị Ngự. Vợ chồng ông Khương sinh được 4 con là: Nguyễn An Thái ( 1890 ), Nguyễn An Thường ( 1894 ), Nguyễn Thị Năng ( 1897 ) và Nguyễn An Ninh (1900 ). Nhưng 3 người con đầu mất sớm chỉ còn lại Nguyễn An Ninh.

Sự nghiệp giáo dục

Nhờ tài quán xuyến của vợ, ngoài việc dạy học, ông Khương còn chú tâm dịch truyện Tàu, những tác phẩm cổ điển có giá trị tư tưởng, văn hóa như: Thủy Hử, Tam Quốc diễn nghĩa, Vạn Huê Lầu, Ngũ Hổ bình Tây…, biên soạn sách giáo khoa như Mông học thê giai nhầm giáo dục tinh thần yêu nước và hiếu nghĩa cho con trẻ bằng các truyện ngắn như: Thằng Vân, Thằng Vàng, v.v… Những sách này đều được xuất bản tại Sài Gòn vào những năm đầu thế kỷ XX

Đối với người con duy nhất là Nguyễn An Ninh, ông quyết tâm dạy dỗ và đào tạo thành người trí thức yêu nước, thương dân. Ông cho con đi học trường Pháp nhưng sợ con chỉ biết chữ Tây mà quên chữ Thánh hiền nên ông dạy thêm cho con chữ Nho. Mỗi lần dịch truyện Tàu, ông đều đọc cho Ninh viết. Đoạn nào Ninh thích thú thì ông bắt học thuộc lòng những chữ Hán đó. Những tuồng tích về gương hiếu nghĩa, trừ gian diệt bạo hoặc những lời hay trong bộ Tứ Thư… dần dần thấm sâu vào tâm hồn và trí nhớ của Ninh. Nhờ vậy, khi Ninh bước vào trường văn, trận bút trong cuộc đấu tranh chống chế độ thực dân, hiếm có ngòi bút nào sắc sảo vừa giỏi tiếng Pháp lại tinh thông Hán học như ông. Và cũng nhờ vào sự giáo huấn của cha ngay từ thuở ấu thơ, Nguyễn An Ninh đã có lòng yêu nước sâu sắc, kiên trung, phân biệt trung nịnh, chánh tà rõ ràng.

Vai trò Chiêu Nam Lầu

Vốn là người yêu nước và mang hoài bảo phụng sự đất nước, năm Nguyễn An Thái đến tuổi đi học, ông Khương bàn với vợ lên Sài Gòn mở khách sạn để có cơ hội tiếp xúc với nhiều người đồng tâm, đồng chí. Và khách sạn Chiêu Nam Lầu được dựng từ cuối thế kỷ XIX, tọa lạc trên

đường Kinh Lấp ( sau đổi thành Charner và ngày nay là đường Nguyễn Huệ ), nơi trung tâm thương mại của Sài Gòn và cũng là nơi giao lưu thuận lợi cả trên đường bộ lẫn đường sông.

Để Chiêu Nam Lầu trở thành nơi hội ngộ của những người yêu nước, thời gian đầu thật khó khăn, vất vả. Bà Khương vừa là người trực tiếp điều hành việc quản lý khách sạn; đồng thời mở rộng kinh doanh nhà hàng. Nhờ tài nấu nướng của bà , Chiêu Nam Lầu được sự mến mộ trong giới điền chủ, thương gia ở Lục tỉnh và vùng Sài Gòn - Chợ Lớn nên sớm phát đạt, nổi tiếng suốt thời gian dài và tồn tại đến năm 1926. Những người yêu nước, những nhà hoạt động cách mạng ẩn dật, những trí thức tiến bộ đương thời lui tới Chiêu Nam Lầu nhiều hơn và kết bạn với ông Khương. Trong số này có Trần Chánh Chiếu đã mời ông cộng tác với hai tờ báo của mình là Nông cổ Mín Đàm và Lục Tỉnh Tân Văn.

Khi cụ Phan Bội Châu bí mật vào Sài Gòn, Chiêu Nam Lầu là nơi cụ tá túc. Kính phục cụ, Nguyễn An Khương đã tổ chức cho cụ gặp gỡ những nhà điền chủ yêu nước nồi tiếng ở Nam Kỳ như Trần Chánh Chiếu đại điền chủ ở Rạch Giá, Nguyễn Thần Hiến điền chủ ở Cần Thơ. Và bộ ba Nguyễn An Khương, Trần Chánh Chiếu, Nguyễn Thần Hiến trở thành cơ sở tài chánh và lãnh đạo phong trào Đông Du của cụ Phan ở Nam kỳ từ năm 1904.

Tại Chiêu Nam Lầu đã hình thành đường dây bí mật đưa những người yêu nước xuất dương để sau này trở về phụng sự đất nước. Phần lớn đi qua Nhật theo học về kỹ thuật quân sự, số ít sang Tàu mua vũ khí. Ông Hoàng Cường Để cũng có một thời tá túc tại khách sạn, và từ đây ông được tổ chức qua Hồng Kông, rồi sang Nhật gặp Phan Bội Châu đang hoạt động ở hải ngoại. Phan Châu Trinh cũng có lúc ở tại đây với người con trai lớn trước khi sang Pháp, và kết thân với Nguyễn An Khương. Nguyễn Sinh Huy ( Sắc ), Nguyễn Tất Thành cũng có ở đây. Riêng ông Huy còn được ông Khương giúp tiền bạc trong lúc mưu sinh. Ngoài ra những ai muốn tìm đường Đông du mà gia đình xa xôi, gặp khó khăn về tiền bạc, Chiêu Nam Lầu đều lo lắng giúp đỡ mọi việc.

Cùng với Chiêu Nam Lầu, ông Khương hoạt động tích cực về báo chí. Ông làm quản lý báo Nông cổ Mín Đàm, đồng thời là cây bút cho tờ báo này và báo Lục Tỉnh Tân Văn. Những bài viết của ông đều có nội dung nhằm hô hào mở mang buôn bán, chống những phong tục hủ bại, hô hào dân Việt đoàn kết, tương thân tương ái. Những ý tưởng của ông đăng tải trên báo được công luận mến mộ, nhất là giới sĩ phu yêu nước khắp ba miền.

Khi phong trào Đông Du thất bại năm 1908, thực dân Pháp bắt và cầm tù Trần Chánh Chiếu. Đối với ông Khương vì ông bị bại chúng chi giam rồi thả về, chúng cấm không được làm báo và không được sinh sống tại Sài Gòn. Lúc này, sức khỏe ông suy yếu nhiều, đi đứng khó

khăn nên ông thu xếp khách sạn, giao lại cho chị gái là bà Nguyễn Thị Xuyên trước khi về sống tại Trung Chánh-Hóc Môn. Bà Xuyên một phụ nữ yêu nước, có học vấn, tinh thông Hán văn và Quốc ngữ, tiếp tục công việc của em trai. Nhưng hoạt động ngày càng khó khăn vì làn sóng du học không còn ồ ạt như trước và luôn bị mật thám theo dõi. Trong những năm 1925 – 1926, phong trào quần chúng nổi lên sôi động. Nhiều cuộc biểu tình rầm rộ đòi ân xá Phan Bội Châu, trả tự do cho Nguyễn An Ninh, để tang Phan Châu Trinh…, những lúc đó, khách sạn Chiêu Nam Lầu rất đông người lui tới gặp gỡ. Viện cớ nơi đây chứa chấp những người chống đối nhà nước, Chính quyền thực dân ra lệnh đóng cửa khách sạn. Bà Xuyên phải bán hết tài sản, về Hóc Môn lập vườn sống với em và cháu.

Những ngày cuối cùng:

Bà Khương vì quá lo lắng cho sự nghiệp của chồng và buồn rầu vì cái chết đột ngột của người con trai lớn ( Nguyễn An Thái khi đang theo học tại trường Collège Mỹ Tho, bị tiêu chảy nhưng nhà trường thiếu chăm sóc nên bệnh mà mất), bà Ngự bệnh và tạ thế năm 1911, an táng tại làng Long Thượng, Cần Giuộc quê nhà.

Ông Khương trong những năm cuối cùng của cuộc đời do bị tai biến mạch máu não, ông bị liệt nửa người. Nhờ tự bốc thuốc chữa bệnh nên ông không bị bại liệt nhưng hai chân yếu, khó đi lại. Ông nằm nhà, tiếp tục dịch sách và chuẩn bị cơ ngơi cho Nguyễn An Ninh sau này. Để có người chăm sóc, ông tục huyền với bà Mai Thị Nữ quê ở Xuân Thới Thượng.

Ông mất ngày 02 tháng 02 năm 1931 (nhằm ngày rằm tháng chạp năm Canh Ngọ), mộ phần tại đất nhà ở Trung Chánh trên phần đất cháu cố bà Nữ hiện cư ngụ tại số 150/2 đường Nguyễn Ảnh Thủ.

clip_image061

NGUYỄN AN NINH

Con người và cuộc sống

clip_image063

Di ảnh Ông Nguyễn An Ninh

Buổi thiếu thời đầy hứa hẹn:

Nguyễn An Ninh sinh ngày 15 tháng 9 năm 1900 tại xã Long Thượng, quận Cần Giuộc, tỉnh Chợ Lớn ( nay là tỉnh Long An ) trong

một gia đình Nho giáo. Thân phụ là Nguyễn An khương, giỏi chữ Hán và Quốc ngữ, làm nghề thầy thuốc, dạy học, dịch sách. Thân mẫu là Trương Thị Ngự, con một gia đình giàu có.

Lúc nhỏ, ông sống tại quê ngoại ( xã Long Thượng ), đến năm 10 tuổi theo cha lên ở hẳn tại khách sạn Chiêu Nam Lầu, nơi thân phụ ông vừa kinh doanh, vừa làm nơi quy tụ, giúp đở những nhà yêu nước đương thời đến ẩn trú hoặc tìm đường xuất dương. Được tiếp xúc với những người này và chịu ảnh hưởng của cha, ông đã được hun đúc tinh thần yêu nước ngay từ thời thơ ấu.

Năm 1910, ông bắt đầu đi học trường dòng Taberd và sau đó theo học chương trình Brevet Elémentaire tại trường Chasseloup Laubat ( hiện nay là trường Lê Quý Đôn ) chủ yếu dành cho con em người Pháp. Nơi đây, ông học giỏi nổi tiếng, được trường cấp học bổng. Ngoài việc theo Tây học, ông còn được cụ Khương dạy Hán Văn và chữ Quốc ngữ qua các truyện Tàu mà cụ dịch thuật.

Năm 1916, nhờ đậu tốt nghiệp hạng ưu nên ông được tuyển thẳng ra Hà Nội theo học Cao đẳng Y dược, được miễn chuẩn bằng Tú tài. Ông lại bỏ Y dược chuyển sang học Luật và Cai trị, nghĩ rằng học ngành này mới thấu hiểu bản chất của chính quyền thực dân để sau này đấu tranh công khai bằng pháp luật. Nhưng không hài lòng với chế độ giáo dục nhồi sọ, ông bỏ học và tìm đường đi Pháp.

Năm 1918, tại Pháp năm đầu Nguyễn An Ninh phải chuẩn bị hồ sơ vào đại học. Ông nhanh chóng lấy bằng Tú tài trong vòng 3 tháng rồi thi vào khoa Luật trường Đại học Sorbonne (cứ 3 tháng ông đăng ký thi chương trình của một năm) nên ông chỉ học trong một năm đã hoàn thành chương trình bốn năm và lấy bằng Cử nhân Luật, gây ngạc nhiên và thán phục trong giới trí thức ở Pháp về trí thông minh lỗi lạc đặc biệt hiếm thấy.

Trong thời gian sống tại Paris, ông thích lui tới Montparnasse “Tổng hành dinh” của nhiều văn sĩ nổi tiếng và nhiều trào lưu nghệ thuật tiền phong đã ra đời tại đây, hoặc lui tới khu Saint Germain des Prés, nơi tụ tập, gặp gỡ của nhiều triết gia và các nhà văn hiện sinh. Ông cũng thường có mặt tại thư viện, đọc những sách mà lịch sử Pháp gọi là “ Triết học ánh sáng” của các triết gia như: Voltaire, J.J.Rousseau, Montesquieu, Diderot . Ngoài ra ông còn thích nghiên cứu về chủ nghĩa Gandhi, về Phật giáo và đặc biệt về triết học Mác – Lênin . Ông cũng đi tham quan học tập và tiếp cận các danh nhân ở Đức, Ý, Thụy sĩ, Áo, Hà Lan, Bỉ. Nhờ vậy, trí thông minh lỗi lạc của ông có được một bề dày kiến thức uyên bác về mọi mặt: Hán Học, Tây học, Luật học, Triết học, Văn hóa và Khoa học.Trong thế hệ đương thời của ông và cả trước đó, sau này, ít có người sánh kịp.

Con đường dấn thân:

Ông không có ý định dừng bước ở bằng Cử nhân mà còn muốn đi xa hơn nữa: đoạt bằng Tiến sĩ. Nhưng ý muốn ấy đã phải nhường bước cho một lý tưởng cao đẹp hơn mà ông đã sớm ôm ấp theo truyền thống gia đình ngay từ buổi thiếu niên tại Chiêu Nam Lầu: đấu tranh cho đất nước.

Năm 1920, trên đất Pháp ông bắt đầu tham gia hoạt động chính trị khi vừa tròn 20 tuổi. Ông thường làm phiên dịch và đưa cụ Phan Châu Trinh đến Bộ Thuộc địa gặp Bộ trưởng Albert Sarraut đòi ân xá chính trị phạm Việt Nam, mở thêm trường học, cho thương gia Việt Nam liên hệ thẳng với nước ngoài. Ông thường giúp Nguyễn Ái Quốc luyện tiếng Pháp, cùng đến thư viện để đọc và các câu lạc bộ để nghe.

Năm 1921, ông gia nhập Hội Liên hiệp Thuộc địa, tham gia tích cực cơ quan ngôn luận của Hội là báo Le Paria cùng với Nguyễn Ái Quốc, tham dự và phát biểu tại những cuộc diễn thuyết do Hội tổ chức và được quần chúng bắt đầu chú ý .

Ngoài việc biên tập cho báo Le Paria, ông còn viết cho các báo tiến bộ như Le Libertaire, có chân trong nhóm sáng lập tạp chí Europe, một tờ báo quy tụ những cây bút nổi tiếng của Pháp và vẫn còn tồn tại đến ngày nay.

Nhóm Ngũ Long gồm (Phan Châu Trinh, Nguyễn Ái Quốc, Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn An Ninh ) được Việt kiều ở Pháp mến mộ, khâm phục, khiến Bộ Thuộc địa Pháp phải yêu cầu Bộ Nội vụ cùng phối hợp hành động để đối phó những nhà cách mạng này.

Năm 1920, khi còn đang ở Pháp, lúc ông vừa đậu Cử Nhân, chưa có ý định về nước thì được cha và cô gọi về lấy vợ. Ông trở về nước kết hôn với một thiếu nữ con một gia đình giàu có ở Sóc Trăng, quốc tịch Pháp. Mặc dù được chế độ thực dân sẵn sàng ưu đãi, dành cho địa vị cao nhất trong chính quyền, có cuộc sống thượng lưu trong xã hội, ông vẫn một mực từ chối, thái độ cương quyết này đưa đến việc ly hôn với người vợ đầu tiên do gia đình lựa chọn. Cuộc hôn nhân kết thúc chỉ trong vòng ba tháng, ông trở sang Pháp nói là học tiếp lấy bằng Tiến sĩ, nhưng thật sự ông đi một số nước học hỏi thêm để rồi kể từ đó, cuộc dấn thân vì đất nước bắt đầu.

Từ năm 1920 đến 1922, ông đã cùng kỹ sư hóa học Nguyễn Thế Truyền,một nhà trí thức uyên bác yêu nước, trở thành hai người bạn thân thiết của Nguyễn Ái Quốc. Họ cùng chung suy nghĩ, cùng chia sẻ khó khăn trong cuộc sống cùng học tập, cùng làm báo, diễn thuyết, cùng bàn bạc con đường đấu tranh làm sao cho tốt nhất, phù hợp với hoàn cảnh của một đất nước nô lệ, lạc hậu nhưng giàu khí chất anh hùng, có truyền

thống yêu nước chống ngoại xâm. Họ đã thề nguyền cùng nhau suốt đời đấu tranh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc.

Tháng 10 năm 1922 Nguyễn An Ninh thu xếp về nước thăm dò phong trào quần chúng bằng cuộc diễn thuyết đầu tiên đêm 25-01-1923 với đề tài “Nền Văn hóa Việt Nam” được quần chúng hoan nghênh nhiệt liệt. Ông vội trở sang Pháp tháng 02 năm 1923 để bộ ba cùng thống nhất hành động.

Tháng 6 năm 1923 Nguyễn Ái Quốc sang Nga để học cách tổ chức và lãnh đạo cách mạng.

Tháng 8 năm 1923 Nguyễn An Ninh trở về xây dựng phong trào trong nước chờ Nguyễn Ái Quốc trở về.

Nguyễn Thế Truyền ở lại tiếp tục công việc và phát triển phong trào tại Pháp, tranh thủ sự giúp đở của Đảng Cộng sản Pháp và đồng bào Pháp.

Về nước , Nguyễn An Ninh lại diễn thuyết lần thứ hai vào đêm 15 tháng 10 năm 1923 với đề tài “Lý tưởng thanh niên An Nam”. Trong hai cuộc thuyết trình này, những lời lẽ của ông là những tiếng chuông khơi động sự “ thức tỉnh đồng bào” về mặt văn hóa lúc ấy còn bị chôn vùi trong những ảnh hưởng của tư tưởng phong kiến Trung Hoa lạc hậu, và chế độ ngu dân của thực dân Pháp. Ông khẳng định :“ Dân tộc nào để cho một nền văn hóa ngoại bang ngự trị thì không thể có độc lập thực sự. Văn hóa là tâm hồn của dân tộc”.

Ông đả kích “ vai trò khai hóa” của người Pháp tại Việt Nam, cho đó là một trò bịp bợm, một chiêu bài nhằm che giấu chính sách bóc lột thực dân, kêu gọi thanh niên đừng ỷ lại vào đó và “ phải dấn thân vào cuộc sống đấu tranh…” Và ông đã kết luận “ Hãy tôn sùng những ai đã dùng tài năng hay thiên phú của mình mà tự nâng vị trí của dân tộc ta trên thế giới và những ai đã đóng góp vào việc cải thiện điều kiện sống cho dân tộc chúng ta”.

Tiếng vang qua hai bài diễn thuyết của Nguyễn An Ninh tuy mới mẻ cũng đã tác động mạnh trong dư luận thanh niên và trí thức Sài Gòn và đã làm đau đầu bọn thống trị. Thống đốc Nam Kỳ lúc đó là Cognacq phải gọi ông lên Dinh để mong bịt miệng. Trước tiên , hắn giở trò mua chuộc, hứa hẹn sẽ bổ nhiệm ông vào một chức vụ cao, nhưng sau đó thấy không thể lung lạc được ý chí sắt đá của người thanh niên mới 23 tuổi này, hắn ra lệnh cấm ông diễn thuyết hay tụ họp bất cứ nơi đâu.

Báo La Cloche Fêlée và sứ mệnh lịch sử :

Không thể tiếp tục đấu tranh bằng lời nói, ông chuyển sang đấu tranh bằng ngòi bút. Ông đã lợi dụng Đạo luật ngày 19 tháng 7 năm 1881

cho phép báo chí viết bằng tiếng Pháp khỏi phải xin phép trước khi báo phát hành. Đạo luật này cho phép dùng « gậy ông đập lưng ông » nên ông cho ra đời báo La Cloche Fêlée ( Chuông rè ) bằng Pháp văn với người quản lý Pháp lai tên Eugène Dejean de la Bâtie.

Ông phải lo chạy tiền ra báo, cụ Nguyễn An Khương đã bán ruộng cho con có tiền và ngày 10 tháng 12 năm 1923, La Cloche Fêlée ra mắt số đầu tiên. Báo tự xưng là cơ quan ngôn luận, tuyên truyền chuẩn bị cho tương lai với tinh thần : Tự do, Bình đẳng, Bác ái nhằm xây dựng Việt Nam thành một nước Pháp thứ hai tại Châu Á.

Nhưng lập trường, quan điểm ấy dù bề ngoài rất ôn hòa và đầy thiện chí, thực chất là lưỡi gươm bén chọc thẳng vào những chổ yếu nhứt của chế độ thực dân, vốn là một chế độ hoàn toàn đi ngược lại những nguyên tắc cơ bản của cuộc cách mạng Pháp 1789. Do đó vì không cấm đoán được, Cognacq và bộ máy cầm quyền Pháp chủ trương đánh phá  La Cloche Fêlée bằng mọi cách. Bất cứ ai cầm tờ báo trên tay cũng bị mật thám theo dõi, bị đuổi học , đuổi việc. Chủ nhà in, thợ sắp chữ liên tục bị hăm dọa. Báo phải đổi nhà in, chủ báo (Nguyễn An Ninh) vừa là ký giả, vừa phụ sấp chữ với thợ, sửa bản vỗ, làm long tong . Khi báo in xong, thì tự mình ôm từng chồng báo đi rao bán khắp phố phường, vì không một đại lý nào dám phát hành La Cloche Fêlée khi có sự răn đe của mật thám.

Làm báo gian khổ cùng cực như thế nhưng Nguyễn An Ninh vẫn không nản chí, vẫn công kích chế độ thuộc địa và ông đã xác định trên báo : «  lưỡi gươm đe dọa vẫn làm chúng tôi dửng dưng. Chúng tôi đã hy sinh tất cả trong quá khứ, chúng tôi sẳn sàn hy sinh tất cả trong tương lai… »

Đến số 19 ra ngày 14 tháng 7 năm 1924 thì báo đành tạm ngưng vì lý do sức khỏe của ông và thể theo lời khuyên của Bâtie, ông cần nghỉ ngơi một thời gian vì cuộc chiến đấu còn dài.

Tuy báo chỉ có mặt trên diễn đàn ngôn luận thời gian ngắn và số lượng phát hành có bị hạn chế ( viết bằng Pháp văn và người đọc bị đe dọa ) nhưng La Cloche Fêlée đã tạo được một vị trí hàng đầu trong lịch sử báo chí Việt Nam, trong thời kỳ đấu tranh xương máu giành độc lập – tự do. Dưới áp lực của bộ máy kềm kẹp thực dân, La Cloche Fêlée đã thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình là gióng lên tiếng chuông thức tỉnh đồng bào và lột trần bản chất đàn áp, bóc lột của chế độ thuộc địa. Có thể nói, lần đầu tiên sau hơn nữa thế kỷ đô hộ Việt Nam, thành trì kiên cố của thực dân Pháp bị một cơ quan ngôn luận bản xứ ngang nhiên nả đạn tấn công, khiến chúng lúng túng, không thể đối phó bằng cách quang minh chính đại mà phải áp dụng những thủ đoạn đê hèn, thấp kém dù chúng thường huênh hoang tự xưng là « người ơn », « người đi khai hóa ».

Riêng đối với Nguyễn An Ninh thì La Cloche Fêlée đáng được xem là một thành tựu quan trọng trong bước đầu của sự nghiệp vì đại nghĩa. Có thể nói tờ báo là hiện thân rõ nét  « Con người Trí tuệ và Tâm

tình » của ông trên giấy trắng mực đen. Do đó, ông được đồng bào ở Sài Gòn – Chợ lớn, ở khắp Nam Kỳ và trên cả nước bắt đầu tin yêu, ngưỡng mộ và xem là thần tượng.

Và trong số người đông đảo ấy có cô Trương Thị Sáu, một cô gái đẹp ở chợ Cầu Ông Lãnh, vốn biết rõ lòng yêu nước chân chính của ông qua La Cloche Fêlée nên đã nhận lời cùng ông đi trọn cuộc đời, dấn thân cho đất nước.

Sự lựa chọn dứt khoát :

Không thể tiếp tục làm báo, cuối năm 1924, sau khi làm lễ thành hôn với Trương Thị Sáu, ông quyết định trở sang Pháp để mở một chiến dịch đòi các quyền tự do – dân chủ cho Việt Nam. Đó cũng là lúc cụ Phan Châu Trinh nhờ Nguyễn An Ninh sang Pháp đón ông về, nên tháng 1 năm 1925 ông đi Pháp. Đến Paris, ông đi diễn thuyết tại nhiều nơi. Đặc biệt trong cuộc nói chuyện tại hội quán Sociétés Savantes do Hội Liên hiệp Pháp – Đông Dương tổ chức ngày 22 tháng 02 năm1925, ông phát biểu thẳng thừng rằng « Cách mạng sẽ nổ ra ở Đông Dương trong vài năm sắp tới nếu thực dân Pháp không cải thiện chế độ thối nát », đồng thời « sẽ có Đảng Cộng Sản giúp nhân dân Việt Nam tiến hành cách mạng ».

Cũng trong thời gian này, vào tháng 4 năm 1925, ông cho công bố quyển sách «  La France en Indochine »(Nước Pháp ở Đông Dương) tại Pháp vạch trần sự xâm lược của thực dân Pháp, phân tích những nguyên nhân đưa đến sự bất ổn tại Đông Dương. Cùng năm đó quyển « Le Procès de la colonisation Francaise »(Bản án thực dân Pháp) của Nguyễn Ái Quốc, được xem là hai bản cáo trạng hùng hồn nhứt, đánh thẳng vào cái gọi là « sứ mệnh khai hóa » của Pháp ở Đông Dương.

Ngày 26 tháng 6 năm 1925, ông cùng cụ Phan Châu Trinh về đến Sài Gòn. Hai người chủ trương cho tái bản La Cloche Fêlée. Và lần này, báo do ông Trường đứng tên Chủ nhiệm, vì có quốc tịch Pháp.

Từ đây, Nguyễn An Ninh tỏ ra năng nổ, quyết liệt hơn theo một tư tưởng của Gandhi là «  đứng trước một tình thế phải chọn lựa giữa sự khiếp sợ và bạo lực, tôi khuyên phải dùng bạo lực hơn là thấy Ấn Độ bị xiềng xích trong bạo lực của kẻ thống trị ». Nếu trước kia, trên mặt báo, ông mới chỉ trích Thống đốc Nam Kỳ thì lần này, ông đánh thẳng vào Toàn quyền Varenne, khi hắn vừa nhậm chức. Đồng thời, còn cho đăng lại những bài của báo L’ Humanité (báo Nhân Đạo thuộc Đảng Cộng sản Pháp ), viết những bài về nước Nga Xô Viết được ông ca tụng là «quốc gia đầu tiên sinh ra từ học thuyết Cộng Sản để hạ sát con rắn bảy đầu tư

bản chủ nghĩa » Táo bạo hơn, ông còn cho đăng nguyên văn bản  Tuyên ngôn Cộng sản  của Mác- Anghen để giúp đọc giả hiểu rõ về chủ nghĩa này.

Thế là sau những năm tháng đầu tiên dấn thân vào cuộc đấu tranh, Nguyễn An Ninh đã dẫn dắt từng bước đấu tranh cho đọc giả từ : Cải lương ôn hòa đến cách mạng bạo lực. Sự lựa chọn dứt khoát ấy đã thúc giục ông làm một chuyện hết sức dũng cảm mà không ai có thể làm trong lúc đó : Công khai đốt lên ánh đuốc Mác- Lênin để cổ vũ một con đường giải phóng mới cho dân tộc, bất chấp họng súng của kẻ thù.

Ông đã làm chuyện hi hữu ấy tức là tuyên chiến với nhà nước thực dân. Và tất nhiên, chúng tìm mọi cách hãm hại ông.

Bắt đầu cuộc đời tù tội

Cuối năm 1925, nhân vụ Thống đốc Nam Kỳ ra lệnh trục xuất nhà báo Trương Cao Động, bắt phải trở về Trung Kỳ, dư luận báo chí nổi lên phản đối và nhiều cuộc hội họp được tổ chức. Nguyễn An Ninh được mời diễn thuyết tại vườn xoài của bà Đốc phủ Nguyễn Tấn Tài là dì ruột của Nguyễn An Ninh tại Phú Nhuận. Và ông bị Thống đốc Cognacq ra lệnh bắt giam trưa ngày 24 tháng 3 năm 1926.

Tin ông bị bắt gây chấn động dư luận và khoảng 50.000 người kéo đến bến Cảng với danh nghĩa đón Bùi Quang Chiêu về nước, nhưng thật sự đòi trả tự do ngay cho Nguyễn An Ninh khiến bọn mật thám phải nổ súng giải tán.

Sau đó, La Cloche Fêlée đăng thư của hơn 1000 đồng bào các giới phản đối việc bắt ông. Học sinh các trường Nữ học đường, trung học Mỹ Tho, Cần Thơ đồng loạt bãi khóa. Đảng Thanh niên của Trần Huy Liệu phát động cuộc đình công ngày 05 tháng 5 năm 1926. Cả Nam Kỳ sôi sục bày tỏ thái độ quyết liệt. Ở Pháp, trên báo Việt Nam Hồn do Nguyễn Thế Truyền chủ bút, đăng nhiều bài đòi thả ngay Nguyễn An Ninh. Và chính nhà văn Pháp Romain Rolland, người đoạt giải Nobel 1915, cũng lên tiếng chống lại sự bắt bớ này.

Thống đốc Cognacq và bộ máy cầm quyền âm mưu kết ông vào tội « gây nội loạn » để trừng phạt nặng nề, nhưng qua hai phiên xét xử, tòa án vẫn không tìm được chứng cứ buộc tội nên phải xử 18 tháng tù ở thay vì 2 năm như dự kiến.

Ở trong tù ông vẫn không chịu nằm yên. Nhân ngày giỗ đầu cụ Phan Châu Trinh, ông dặn bà Ninh - nhân chuyến bà vào thăm - đi vận động đồng bào viếng mộ cụ thật đông để « tập họ quen biểu dương lực lượng, sẳn sàng cho cuộc đấu tranh lớn sau này ». Bà Ninh lĩnh ý, tích cực thực hiện và trong ngày giỗ cụ Phan, đã có hàng trăm ngàn người hưởng ứng, trong đó có hàng ngàn phụ nữ.

Tuy bị xử 18 tháng tù ở, nhưng trước dư luận phản đối bản án, đặc biệt của nhà báo Pháp nổi tiếng Léon Werth, giáo sư triết học Félicien

Challage, giáo sư kinh tế Charles Gide, v.v…, chính quyền Pháp phải trả

tự do cho ông sớm hơn. Ngày 7 tháng 01 năm 1927, ông rời Khám Lớn

sau hơn 9 tháng bị giam cầm.

Tấm lòng đối với Đảng Cộng Sản

Ông về sống tại Trung Chánh ( Hóc Môn – nay là Quận 12), cạo đầu, trên bàn thờ để bộ mõ, chuông để che mắt mật thám việc chuẩn bị hoạt động mới : Xây dựng tổ chức Thanh niên Cao vọng tuyển chọn người yêu nước để có sẳn lực lượng chờ Nguyễn Ái Quốc trở về, ( mật thám Pháp gọi là Hội kín Nguyễn An Ninh ). Như vậy, từ lĩnh vực văn hóa tư tưởng, ông chuyển sang địa hạt tổ chức, hành động cách mạng, như ông thường nói « Tuyên truyền rồi mà không tổ chức quần chúng lại thì khác nào đốt pháo thăng thiên »

Suốt hai năm 1927 – 1928, ông bí mật đi nhiều nơi từ Miền Đông xuống Miền Tây thường di chuyển bằng xe đạp với người bạn thân là Phan Văn Hùm. Tính đến cuối năm 1928, tổ chức có hơn 4000 thanh niên đã được ông tuyển chọn có mặt khắp Nam Kỳ, thu hút mọi tầng lớp xã hội, đặc biệt ở nông thôn, có rất nhiều hương chức tham gia. Thanh niên Cao vọng tổ chức học văn hóa, học lịch sử nước nhà, học chính trị giác ngộ về đấu tranh giai cấp và bí mật võ trang bằng súng lấy được của lính Pháp.

Bọn mật thám ráo riết bám sát và tìm cách bắt ông. Nhân việc ấu đả với Cai Nên tại Bến Lức, chúng bắt và đưa ông ra tòa và xử hai tội : đánh nhân viên công lực và lập Hội kín với bản án 3 năm tù, 1000 quan tiền vạ và mất quyền công dân 3 năm. Đây là lần thứ hai ông vào Khám Lớn.

Đó là cái giá khá đắt mà ông phải trả. Nhưng bù lại ông đã làm được điều ông tâm nguyện tha thiết như đã từng tâm sự với bà Ninh là ; « Tôi cố gắng xây dựng cơ sở quần chúng để bao giờ Nguyễn Ái Quốcvề, tôi sẽ giao lại ». Và ông đã thực hiện điều tâm nguyện ấy cho những người học trò của Nguyễn Ái Quốc mà không cần chờ đợi ngày về của ông ấy. Ngay trong tù, ông đã dặn dò bà Ninh giới thiệu người trực tiếp cho Châu Văn Liêm thành lập An Nam Cộng Sản Đảng.

Vào cuối năm 1929, vì lúc bấy giờ tổ chức Thanh Niên cách mạng ở Nam Kỳ đã bị bắt gần hết, chật Khám Lớn Sài Gòn từ cuối năm 1928, trong vụ án giết người ở đường Barbier. Người lãnh đạo cao nhất của tổ chức Thanh Niên cách mạng là Tôn Đức Thắng và Ban chấp hành Kỳ bộ đều vào tù, cơ sở bên dưới cũng bị bắt rất nhiều. Khi Châu Văn Liêm và Phạm Văn Đồng từ Quảng Châu về để thành lập tổ chức Cộng sản ở Nam Kỳ thì Phạm Văn Đồng bị bắt ngay tại ga Sài Gòn và bị xử chung trong vụ án đường Barbier. Vì vậy mà Phạm Văn Đồng có dịp ở tù chung Khám Lớn với Nguyễn An Ninh. Ông Ninh biết đây là người của tổ chức của Nguyễn Ái Quốc, nên qua bà Ninh, Châu Văn Liêm đã có một lực lượng nồng cốt của Thanh Niên Cao Vọng giúp đở mở Đại hội thành lập An Nam Cộng sản Đảng tại Sài Gòn. Lớp đầu tiên gồm Võ Thành Mong, Hồ Văn Long, Nguyễn Văn Nhâm, Nguyễn Văn Tiếp, Võ Văn Ngân, Võ

Văn Tần, Phan Văn Đối, Nguyễn Thị Thiên, Lưu Văn Châu vào Đảng cuối năm 1929

Sau khi mãn tù, chính ông trực tiếp đi tìm gặp Nguyễn Văn Trân, một đảng viên Cộng Sản vốn quen thân từ lúc ở Pháp, cùng ông này đi khắp các tỉnh Nam Kỳ suốt 3 năm liền từ năm 1932 đến năm 1935 bằng xe đạp bán dầu cù là để giới thiệu những Thanh niên Cao vọng ưu tú cho ông Trân báo cáo với Xứ ủy để chỉ thị cho các tỉnh liên hệ, và chọn lựa kết nạp.

Khi ba Đảng Cộng Sản được thống nhất. Ở Nam Kỳ, số đông đảng viên đầu tiên vốn có gốc từ Thanh niên Cao vọng như đồng chí Hồ Văn Long, Võ Văn Tần, Võ Văn Ngân, Lưu Văn Châu, Nguyễn Văn Tiếp…trở thành những chiến sĩ cộng sản lỗi lạc, kiên trung, từng giữ các chức vụ cao trong đảng thời ấy. Thanh niên Cao vọng là sự đóng góp lớn của Nguyễn An Ninh cho Đảng Cộng sản lúc thoái trào vươn lên nhanh chóng, sau thời gian bị khủng bố nặng nề để kịp thời đáp ứng yêu cầu của tình thế mới khi Mặt trận Bình dân tại Pháp lên cầm quyền. Có người vẫn chưa hiểu tại sao ông xây dựng một tổ chức yêu nước lớn mạnh nhất lúc bấy giờ, rồi lại tích cực bàn giao hết lực lượng ấy cho Đảng Cộng sản. Sự kiện này biểu hiện rõ nét tấm lòng và niềm tin của Nguyễn An Ninh đối với Đảng Cộng Sản. Đó là tinh thần phục vụ vô điều kiện và niềm tin tuyệt đối dành cho Đảng, mặc dù lúc đó Đảng chỉ là một tổ chức mới xây dựng, chưa có bề thế của một đảng lãnh đạo, tổ chức chưa thật thống nhất lại sai lầm ấu trỉ rất nguy hại qua khẩu hiệu đánh đố : «Trí, phú, địa, hào đào tận gốc, bóc tận rễ » lúc ấy. Nhưng Nguyễn An Ninh đã nhìn thấy sức mạnh tiềm năng của Đảng bằng đôi mắt tinh đời đặc biệt, đã thấu hiểu bản chất của Đảng bằng trí tuệ hết sức minh mẫn, và đoán biết được tương lai của Đảng bằng nhãn quan chính trị sâu sắc, nhạy bén. Do đó ông đã làm một chuyện mà ngoài ông, chưa một ai có thể làm được lúc bấy giờ.

Và hơn thế nữa, ông lại tự đặt mình dưới sự lãnh đạo của Đảng để hoạt động trong tư cách «đảng viên ngoài đảng » mặc dù lúc đó ông đã tạo cho mình một ánh hào quang chói lọi, được mọi người tin yêu, ngưỡng mộ như một lãnh tụ, thần tượng. Tuy không phải là một đảng viên cho đến cuối đời, nhưng ông đã có « Đảng tính rất cao, cao hơn cả đảng viên…,có quan hệ mật thiết với anh Hà Huy Tập và Nguyễn Văn Cừ. Có những Nghị quyết anh Ninh chấp hành rất nghiêm chỉnh. Trái

lại, có những sáng kiến của bản thân anh được Đảng ta coi như của mình, được toàn đảng ta chấp hành ». ( lời của Hà Huy Giáp )

Chủ xướng phong trào Đông Dương Đại Hội

Năm 1932, tình hình chuyển biến thuận lợi. Cuối tháng 10 năm ấy, sau khi viết và cho in quyển sách «  Tôn giáo », ông cùng Nguyễn Văn Tạo, một đảng viên Cộng sản, làm báo Trung Lập.

Gặp dịp chính quyền thực dân tổ chức bầu cử Hội đồng Thành phố (tháng 5 năm 1933) , Ông và ông Tạo đưa ra Sổ Lao Động để tranh cử, ứng cử viên là những người Cộng sản đảng viên của Đảng Cộng sản Pháp, hoạt động công khai giữa Sài Gòn, giữa lúc chính quyền Pháp vẫn còn tiếp tục đàn áp phong trào cách mạng, mở phiên tòa xử vụ án lớn nhất gồm 121 người cộng sản nổi danh như ; Hà Huy Giáp, Ngô Gia Tự, Phạm Hùng…- .Để bài vở cổ động tuyển cử không bị kiểm duyệt, ông cùng ông Tạo cho ra báo Pháp ngữ « La Lutte » .Kết quả cuộc bỏ phiếu ngày 23 tháng 4 năm 1933, hai đảng viên Cộng sản trong Sổ Lao Động là Nguyễn Văn Tạo và Trần Văn Thạch đắc cử, đạt phiếu cao hơn cả đảng Lập Hiến thân Pháp. Viên Toàn quyền Pasquier như bị một tát tai vào mặt, ngang ngược hủy bỏ kết quả bầu cử, ra lệnh thu hồi giấy phép báo Trung Lập , báo La lutte cũng tự đính bản sau khi xong bầu cử.

Tháng 8 năm 1933 phái đoàn dự hội nghị bảo vệ hòa bình chống chiến tranh ở Thượng Hải do ông Paul Vaillant Couturier dẫn đầu sang Sài Gòn để nắm tình hình phong trào cộng sản bị đàn áp. Nguyễn An Ninh là bạn thân của Couturier nên nhờ đó mà biết Nguyễn Ái Quốc còn sống đã trở sang Moscou, Nguyễn An Ninh cung cấp tài liệu về vụ xử hơn 120 đảng viên cộng sản cho Couturier để trở về Pháp đấu tranh.

Ngày 19 tháng 02 năm 1934, ông lại gặp đoàn Cứu tế Đỏ của Quốc tế Cộng Sản do Gabriel Péri, đảng viên Đảng Cộng Sản, nghị sĩ Quốc Hội Pháp dẫn đầu đến Việt Nam để điều tra và can thiệp những vụ bắt bớ, giam cầm của chính quyền thuộc địa. Ông đưa đoàn đi khắp nơi để nắm rõ tình hình. Ông đã lập danh sách tù chính trị hiện còn bị giam giữ để phái đoàn trở về Pháp đấu tranh trước Quốc hội Pháp đòi thả chính trị phạm. Nên khi chính phủ Mặt Trận Bình dân lên cầm quyền năm 1935-1936 nhiều đợt chính trị phạm được thả.

Sau đó, nhóm đệ tam và đệ tứ cho tục bản báo La Lutte và lần này với một lực lượng biên tập hùng mạnh gồm : Nguyễn Văn Tạo, Nguyễn Văn Nguyễn cùng với Tạ Thu Thâu, Hồ Hữu Tường, Lê Văn Thử… (nhóm đệ tứ và đệ tam liên minh được do ông dàn xếp với uy tín cá nhân rất lớn của mình).

Đầu năm 1935, nhóm La Lutte ủng hộ các ứng cử viên : Nguyễn Văn Tạo, Trần Văn Thạch, Dương Bạch Mai, Tạ Thu Thâu đánh bại phe Lập Hiến. Và một lần nữa, chính quyền thực dân lồng lộn, ra lệnh hủy bỏ kết quả bầu cử.

Giữa năm 1935, Đảng Cộng sản Pháp liên minh với Đảng Xã Hội và Đảng Xã Hội cấp tiến thành lập Mặt trận Bình Dân. Mặt trận Bình Dân thắng cử trong Tổng tuyển cử bầu Quốc Hội Pháp và đứng ra lập chính phủ. Đây là cơ hội ngàn năm có một để Nguyễn An Ninh và Nguyễn Thế Tuyền nhờ Đảng cộng sản giúp đỡ, khi Nguyễn An Ninh đã chuẩn bị sẳn sàng để tìm cách sang Pháp tìm cách đưa Nguyễn Ái Quốc

về Sài Gòn. Nhưng kế hoạch này bị thất bại vì Đảng cộng sản Pháp từ chối tham gia lập chánh phủ.

Không thực hiện được ước mơ đưa lãnh tụ về, đây cũng là dịp tốt để phát động quần chúng đấu tranh nên ông chủ xướng thành lập « Đông Dương Đại Hội » và chủ trương này được Đảng tán thành, được quần chúng nhiệt liệt hoan nghênh. Ông viết một loạt bài liên tiếp trên báo La Lutte vừa vận động, cổ vũ phong trào, vừa chỉ đạo đường lối, hướng đi thích hợp. Tòa soạn báo trở thành « Tổng Hành Dinh » của cuộc chiến mới, tập hợp đông đủ mọi tầng lớp quần chúng tham gia vào hàng ngũ, kể cả đại diện tư sản, địa chủ.

Phong trào Đông Dương Đại Hội nhanh chóng phát triển, cả Nam Kỳ bùng lên trong làn sóng đòi hỏi dân chủ, tranh đấu cho dân sinh mạnh mẽ chưa từng thấy. Trong một thời gian ngắn, tại Sài Gòn – Chợ Lớn và khắp Nam Kỳ đã có trên 600 Ủy ban hành động, có triển vọng lan rộng ra Trung, Bắc và hai nước Miên, Lào.

Quá lo sợ trước sức mạnh của phong trào, chính quyền Pháp thẳng tay đàn áp, bắt giam Nguyễn An Ninh, Nguyễn Văn Tạo, Tạ Thu Thâu, khủng bố và giải tán các Ủy ban hành động tại khắp mọi nơi. Để phản đối sự bắt bớ trái phép, ba ông tuyệt thực. Việc này gây chấn động dư luận trong nước và ngay tại Pháp, tạo sức chống đối mạnh mẽ. Thấy tình hình có nguy cơ bùng nổ nếu sinh mạng ba ông bị lâm nguy sau 11 ngày nhịn ăn, nhịn uống, Thống đốc Nam Kỳ Pagès phải ra lệnh phóng thích. Sau đó, do bất đồng chính kiến với nhóm Đệ tứ, ông Ninh rời hẳn nhóm La Lutte, trở về Trung Mỹ Tây viết quyển : « Phê bình Phật Giáo ».

Đông Dương Đại Hội tuy có tuổi thọ ngắn ngủi, nhưng đã trở thành một sự kiện đáng ghi nhớ trong lịch sử đấu tranh giành độc lập của dân tộc, một hiện tượng đậm nét về tính khí bộc khởi đặc biệt của người dân Việt ở phương Nam. Và Nguyễn An Ninh là người có công đầu trong việc tạo nên sự kiện lịch sử ấy. Đó là một sự thật không ai có thể phủ nhận được.

Những năm tháng cuối cùng.

Với quyển :  « Phê bình Phật Giáo », ông trở lại với sứ mệnh « thức tỉnh » đồng bào về văn hóa. Ông chống thủ đoạn của thực dân dùng tôn giáo ru ngủ quần chúng. Để đả phá những điều sai trái của Phật giáo, ông đã vận dụng triết học duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lênin. Và « Phê bình Phật giáo » được đánh giá có chiều sâu tư tưởng

hơn nhiều các luận văn khác cùng đề tài của Hải Triều (Nguyễn Khoa Văn) và Hồ Nam (Trần Văn Giàu) vốn là hai nhà lý luận mác xít nổi danh thời bấy giờ. Nhưng ông không thể ngồi yên để viết sách. Do yêu cầu của Đảng muốn ra báo L’avant – Garde bằng Pháp ngữ do Hà Huy Tập, Tổng Bí thư Đảng lúc ấy trực tiếp chỉ đạo, nhưng Đảng không có

tiền. Ông cùng Nguyễn Văn Nguyễn đi Trà Vinh vận động tài chánh cho

báo. Tại Càng Long, Đảng bộ cộng sản có tổ chức cuộc biểu dương lực lượng của hàng ngàn đồng bào tại đây nhân ngày lễ 1 tháng 5, do ông có

mặt tại Càng Long vào thời điểm đó nên chính quyền thực dân liền ra lệnh truy nã rồi bắt được ông tại nhà Hội đồng Võ Công Tồn ở Gò Đen. Và tòa án Trà Vinh ngang nhiên tuyên án ông 5 năm tù và 10 năm biệt xứ. Sau đó, xử lại còn 4 năm vì ông chống án sang Pháp nên cuối cùng chúng phải giảm án còn 2 năm tù kèm theo án biệt xứ.

Đây là lần thứ 4 ông bị ngồi tù Khám Lớn và đến ngày 18-2-1939, ông được trả tự do nhưng không được sống ở Sài Gòn, mà phải chuyển xuống ở Mỹ Tho. Hoàn cảnh gia đình ông vốn đã sa sút lại càng khốn đốn hơn.

Theo quyết định của Xứ ủy Nam Kỳ, mời ông ra ứng cử Hội đồng Quản Hạt, đứng tên chung với Nguyễn Văn Tạo và Nguyễn Phan Long, dù ông không muốn. Ông lợi dụng việc này để viết một loạt bài đăng trên tờ báo công khai của Đảng lúc đó là Dân Chúng, đề cập đến những vấn đề thời sự nóng bỏng như : «Lời hứa cho Đông Dương tự trị của Albert Sarraut », «  Đòi hòa bình, cơm áo, tự do », « Lập một quốc gia dân chủ », « Mở ngục cho chính trị phạm »…

Bị chính quyền tìm mọi cách phá bỉnh, hạn chế sự vận động, Sổ Dân chúng của Nguyễn Văn Tạo bị thua Sổ Tranh dấu của Tạ Thu Thâu mặc dù được số thăm cao hơn tại vùng nông thôn các tỉnh Chợ Lớn, Tân An, Mỹ Tho.

Sau cuộc bầu cử, ông vẫn ở Mỹ Tho và mật thám theo dõi ngặt hơn trước. Sáng ngày 04 tháng 10 năm 1939, chúng đến nhà, bắt ông giải về Sài Gòn. Lần này tuy không có bằng cớ gì, chúng vẫn buộc tội ông : Làm rối trị an bằng hoạt động bí mật, xúi giục nông dân chống chính phủ. Ngày 27 tháng 7 năm 1940, chúng đưa ông ra xử kín với bản án 5 năm tù, 10 năm biệt xứ rồi đày ông ra Côn Đảo.

Ông bị giam cầm, hành hạ bằng cách biệt giam cách ly với mọi tù nhân, ốm đau không được chăm sóc, ngày 14 tháng 8 năm 1943 thì vĩnh viễn ra đi sau thời gian dài bịnh nặng không được chữa trị. Ông được anh em tù nhân mai táng tại nghĩa trang Hàng Dương, và ngôi mộ được bạn tù bảo vệ tồn tại cho đến ngày giải phóng cùng với mộ Võ Thị Sáu.

Gần 40 năm sau, tháng 8 năm 1980, ông được truy nhận bằng Tổ Quốc Ghi Công và danh hiệu Liệt sĩ của Nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.

Đôi lời tổng kết về con người và sự nghiệp Nguyễn An Ninh :

Ông Nguyễn Văn Linh, nguyên Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam đã đánh giá ; « Nguyễn An Ninh là nhà yêu nước vĩ đại ».

Ông Phạm Văn Đồng, nguyên Thủ tướng chính phủ Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đã xác định : « Nguyễn An Ninh có tầm vóc một nhà lãnh đạo một cuộc cách mạng ».

Cuộc đời và con người Nguyễn An Ninh đã chứng minh cho những lời đánh giá cao đẹp ấy, và đồng thời cho lòng ngưỡng mộ, niềm tôn kính mà đồng bào cả nước dành cho ông từ thế hệ trước cho đến ngày nay và cả mai sau.

Nghiên cứu về con người và cuộc sống của ông, tất cả mọi người đều có thể dễ dàng nhất trí với nhau rằng : Nguyễn An Ninh sinh ra ở đời là để sống một cuộc sống vượt lên cao mức bình thường, nếu không muốn dùng hai chữ phi thường do những đặc trưng về Con người ít ai có được.

Trước hết, ông có một lòng yêu nước trung kiên hiếm có, bởi lẽ lòng yêu nước ấy luôn bị đặt trong sự thử thách đầy quyến rũ của địa vị thượng lưu, của cuộc sống giàu sang, êm ấm mà chế độ thuộc địa Pháp và Phát xít Nhật luôn cầu cạnh và mang đến cho ông ; đồng thời cùng với sự thử thách của chế độ lao tù đầy khắc nghiệt. Cuối cùng chúng đã quật ngã cuộc sống thể xác của ông nhưng không thể tạo được bất cứ tỳ vết nào trong tấm lòng cao cả của ông đối với đất nước.

Thứ đến, ông có một trí tuệ thông minh lỗi lạc, gần như xuất chúng. Lúc nhỏ, ông đã chứng minh trong trường học, khi trưởng thành ông chứng minh liên tục trong trường đời, trong hơn hai mươi năm hoạt động cách mạng. Giữa hoàn cảnh đất nước còn tăm tối, ông đã sớm nhìn thấy chủ nghĩa Mác – Lênin , thấy ánh sáng của Cách mạng Tháng 10 Nga, thấy xu thế mới của bước tiến lịch sử nên đã xác định được con đường yêu nước của mình ngay từ những thập kỷ đầu của thế kỷ XX. Trong việc đối mặt với chính quyền thuộc địa, đặc biệt trên mặt trận báo chí công khai, trí tuệ ông luôn sinh động. Ngòi bút của ông lúc nào cũng hừng hực khí thế chiến đấu, anh dũng, ngoan cường, đanh thép với một kiến thức uyên bác khiến bọn thống trị chỉ có một cách đối phó duy nhất là làm càn, làm bướng, đàn áp thô bạo, phi pháp luật, phi văn hóa.

Thứ ba, ông có một tính cách luôn năng nổ, sôi động, nhạy bén, sáng tạo và quyết liệt trong mọi hoàn cành, mọi cơ hội. Điển hình là việc làm báo La Cloche Fêlée, báo La Lutte và việc chủ xướng, chỉ đạo trực tiếp phong trào Đông Dương Đại hội. Có thể nói rằng trong mấy mươi năm liên tiếp, từ khi dấn thân vào con đường đại nghĩa cho đến ngày tạ thế, ông không có thời gian ngơi nghỉ và lo lắng cho cuộc sống bản thân, cho gia đình mà đã dành trọn tất cả tinh lực để đánh địch, đánh liên tiếp, đánh tới tấp, đánh không khoang nhượng.

Và cuối cùng, ông có một nhân cách cao đẹp hiếm có trong cuộc sống thường tình cũng như trong cuộc sống cách mạng khiến bất cứ ai cũng mến thương, kính trọng, tôn sùng, sẳn sàng đi chung với ông, đi

theo ông. Như Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền, Mai Văn Ngọc luôn xem ông là người bạn đường đáng tin tưởng. Như Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, trước sau vẫn xem ông là thần tượng dù có khác biệt về chính kiến như Nguyễn Văn Linh, Phạm Văn Đồng, Hà Huy Giáp, Trần Văn Giàu, Nguyễn Thị Lựu luôn xem ông như một người anh, người đồng chí thân thiết . Kể cả bọn mật thám, cai tù chưa một lần đánh đập, tra tấn ông. Ngay cả tù thường phạm, giám thị nhà tù Côn đảo đã lén lút chăm sóc, bảo vệ ngôi mộ của ông để không bị vùi dập dưới bãi cát Hàng Dương. Và đặc biệt hơn cả ở nhân cách ông là đức khiêm tốn. Ông không bao giờ tự xem mình là lãnh tụ dù đã một thời được quần chúng tôn vinh là lãnh tụ, là thần tượng mà luôn thành tâm nhường ngôi vị ấy cho Nguyễn Ái Quốc.

Nguyễn An Ninh là ngôi sao sáng chói giữa bầu trời lịch sử thời đất nước còn đen tối và ông « Xứng đáng được lưu danh bằng bia đá, tượng đồng » như học giả Trần Văn Giàu đã nói.

Năm 2000, nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của ông, lãnh đạo thành phố Hồ Chí minh đã xây dựng nhà Lưu niệm Nguyễn An Ninh khang trang tại Trung Chánh Hóc Môn, nơi ông hoạt động suốt hơn 20 năm để ghi nhớ công ơn nhà Chí sĩ. Tên đường và tên nhiều trường học ở TP. Hồ Chí Minh được vinh dự đặt tên Nguyễn An Ninh. Đã có 3 cuộc Hội thảo khoa học về Nguyễn An Ninh tại TP. Hồ Chí Minh và Hà Nội. Nhân kỷ niệm 70 năm ngày mất của ông, năm 2013, Nhà Xuất bản Trẻ đã tự nguyện in một tập sách về cuộc đời Nguyễn An Ninh, một biểu hiện tấm lòng tri ân, ngưỡng mộ đối với nhà yêu nước lớn của dân tộc.

Tuy vậy, trong sâu thẩm mọi trái tim, mọi người dân yêu nước vẫn còn đọng một chút băn khoăn về sự đối xử của Nhà nước ta hiện nay có phần chưa thỏa đáng đối với công lao, sự nghiệp, tầm ảnh hưởng của một chí sĩ, liệt sĩ vĩ đại, đặc biệt của dân tộc Việt Nam anh hùng.